Hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách về di chuyển lao động

Hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách về di chuyển lao động cần thực hiện theo hướng thúc đẩy lao động có kỹ năng di chuyển, đảm bảo lợi ích cá nhân người di chuyển và lợi ích của quốc gia.

Theo đó, các cơ quan quản lý Nhà nước, căn cứ theo chức năng nhiệm vụ của mình, chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan và các đối tác xã hội, cần tiến hành một số giải pháp sau đây:

  • Hoàn thiện, sửa đổi và thực hiện nghiêm các quy định pháp luật liên quan đến di chuyển lao động (ví dụ như sửa đổi Luật Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng – Luật số 72/2006/QH11 và các văn bản dưới Luật), bao gồm cả di chuyển lao động có kỹ năng và giải pháp quản lý hoạt động xuất khẩu lao động của các doanh nghiệp từ khâu tuyển chọn, đào tạo đến quản lý lao động ở nước ngoài;
  • Kiện toàn hệ thống thống kê về lao động đi làm việc ở nước ngoài: cần phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong công tác thống kê lao động di cư, kể cả ở nước tiếp nhận lao động, để tăng cường công tác thống kê và dữ liệu lao động di cư phục vụ cho việc quản lý và kết nối lao động; trong điều kiện có thể, đưa một số chỉ số thống kê về lao động di cư bao gồm ngành, nghề, trình độ, thị trường đến… vào hệ thống thống kê về lao động của Việt Nam. Đầu tư nguồn lực nhằm áp dụng các phần mềm khai báo trên mạng thống nhất giữa các bên liên quan được quy định trong Luật và trong Thông tư hướng dẫn. Đặc biệt, tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân có thể truy cập và khai báo trên mạng về việc đi làm việc nước ngoài theo hợp đồng. Xây dựng cơ sở dữ liệu đầy đủ về người lao động đi làm việc ở nước ngoài và sử dụng cơ sở dữ liệu này để đánh giá hiệu quả hoạt động việc làm ngoài nước; xây dựng cổng thông tin về việc làm ngoài nước cho mọi đối tượng quan tâm đến xuất khẩu lao động, kết nối với dịch vụ việc làm trong nước.
  • Đơn giản hoá thủ tục hành chính, đặc biệt liên quan đến việc đăng ký và khai báo của lao động đi theo hợp đồng cá nhân nhằm khuyến khích họ trao đổi thông tin với các cơ quan quản lý lao động và cơ quan ngoại giao; Xem xét, tính toán phù hợp các mức đóng phí của bản thân người lao động với các nghĩa vụ về thuế và Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước theo quy định của Luật.
  • Cần đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về lợi ích của việc đi làm việc ở nước ngoài, đặc biệt về lao động có kỹ năng cao và các cơ hội làm việc của Cộng đồng ASEAN, các tiêu chuẩn cụ thể được các nước ASEAN khác công bố và áp dụng. Định hướng, thông tin giúp cho người lao động hiểu được muốn làm việc tại các nước ASEAN cần có sự chuẩn bị chu đáo về kiến thức, trình độ chuyên môn, kỹ năng cần thiết để có thể cạnh tranh và tham gia vào thị trường lao động của khu vực. Công tác thông tin về tình hình lao động các nước cũng cần được công bố công khai để các doanh nghiệp, dân cư tiếp cận thuận lợi. Theo đó, các thỏa thuận được ký kết cần thông báo cụ thể đến từng doanh nghiệp và dân cư, đặc biệt tới đội ngũ sinh viên các trường đại học, cao đẳng, phổ thông trung học, trung tâm dạy nghề… chuẩn bị tốt nghiệp.
  • Xây dựng kế hoạch phát triển các thị trường có nhu cầu tiếp nhận lao động có trình độ cao; Xác định các ngành nghề mà lao động Việt Nam có thế mạnh và nước tiếp nhận có nhu cầu; Đàm phán, ký kết các thoả thuận song phương về việc tiếp nhận lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật của Việt Nam sang làm việc và thúc đẩy hợp tác về bảo hiểm tương hỗ cho người lao động di cư; Đàm phán để tiếp nhận những giáo trình đào tạo chuyên ngành của các nước tiếp nhận lao động kỹ thuật cao đưa về đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng của Việt Nam hoặc phối hợp, liên thông đào tạo với trường/người sử dụng của nước tiếp nhận để bảo đảm học viên tốt nghiệp các trường theo giáo trình này đạt chuẩn do phía nước ngoài yêu cầu; đàm phán để ký kết các thỏa thuận công nhận lẫn nhau về kỹ năng và bằng cấp giữa Việt nam với các nước tiếp nhận trong khu vực.
  • Bên cạnh đó, cần hình thành hệ thống công ty đào tạo lao động có kỹ năng cao thuộc các loại ngành nghề được ASEAN công bố; kết hợp với các cơ sở đào tạo, cơ quan cấp chứng chỉ hành nghề nhằm tạo môi trường tốt nhất cho lao động Việt Nam khi tham gia thị trường lao động trong ASEAN. Ngoài ra, cần mạnh dạn kết nối với các cơ sở đào tạo có uy tín trong ASEAN hoặc xây dựng trung/trường tâm đào tạo ASEAN trong những ngành nghề có nhu cầu cao để học hỏi kinh nghiệm và đi tắt đón đầu, thích nghi và chủ động trong Cộng đồng
  • Tích cực nghiên cứu và khuyến nghị mở rộng về cơ chế hợp tác trong vấn đề di chuyển lao động cả đối với lao động kỹ năng khác không thuộc 8 nhóm nghề đã ký và một số nghề cần lao động kỹ năng cao hoặc trung bình trong ASEAN, thúc đẩy MRSs để tận dụng thế mạnh và chuyên môn của lao động Việt Nam và đáp ứng nhu cầu của nước phái cử (ví dụ như ICT, các nghề CNC, công nhân lao động tay nghề cao).
  • Về cơ chế, Chính phủ cần thành lập Ban chỉ đạo quốc gia về đàm phán, ký kết các MRAs và hiệp định song phương, trong đó có đại diện của các bộ/ngành có liên quan, đứng ra theo dõi, giám sát và tổng hợp việc đàm phán và ký kết các hiệp định song phương, có cơ chế chia sẻ, trao đổi thông tin và phối hợp trong quá trình đàm phán, ký kết, theo dõi và dự kiến tác động/ảnh hưởng đến các vấn đề kinh tế, xã hội, trong đó có cả vấn đề quản lý lao động. Đối với các MRAs đã ký, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ trong quá trình chuẩn bị đàm phán và ký kết, chia sẻ thông tin về MRAs giữa các bộ ngành. Tiếp tục có các đánh giá về thực hiện các MRAs đối với thị trường lao động Việt Nam và