Hoạt động đảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn rong sản xuất – chế biến mại hàng thủ công mỹ nghệ mây tre lá của việt nam

Đối với ngành TCMN chất lượng của SP tốt hay xấu phụ thuộc vào chất lượng của nguyên liệu thô, mức độ tinh xảo của các thợ lành nghề cũng như nỗ lực trong công tác quản lý nhà nước và ứng dụng KH&CN cải tiến hiện đại. Nhìn chung, các nhà NK quốc tế của Việt Nam cho rằng: “Sản phẩm dành cho TT cao cấp là thực sự không phổ biến ở Việt Nam, SP Việt Nam có sự tương quan giữa giá cả và chất lượng ở cấp trung bình và cấp thấp”.

Trong khi đó, các cơ sở SX, hộ gia đình không có nhân sự quản lý chất lượng  chuyên trách, việc kiểm soát chất lượng vệ sinh an toàn ở các cơ sở này chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và đánh giá trên cơ sở biểu hiện bên ngoài của SP. Chất lượng không đảm    bảo là do: (i) trang thiết bị không phù hợp với xu hướng thế giới, (ii) chưa xây dựng được các tiêu chí về chất lượng ở các khâu xử lý nguyên liệu, hoàn thiện SP và (iii) các cơ quan chúc năng thực hiện các hoạt động kiểm tra chưa đúng quy định trong các công đoạn ĐV- SX-ĐR của ngành.

Các làng nghề TCMN mây tre lá thường được biết đến như những làng ít ô nhiễm. Tuy nhiên theo các nghiên cứu khoa học, hầu hết các làng nghề TCMN mây tre lá phát   sinh các chất ô nhiễm. Quá trình xử lý chống mốc cho các SP mây tre đan gây phát sinh lượng lớn SO2, riêng tỉnh Thái Bình, có 40/210 làng nghề TCMN mây tre lá và có tới 800  lò sấy lưu huỳnh thải khí độc hại hàng ngày. Không chỉ gây ô nhiễm khí thải, nhiều làng nghề TCMN mây tre lá cũng gây ô nhiễm nước thải. Ở làng nghề tre cuốn Cát Đằng,    người làm nghề phải mang nứa ra các sông, kênh, rạch ngoài đồng kể cả các mương máng có nước để ngâm. Nhiều hộ gia đình cải tiến hơn thì xây bể, mua thùng tôn bơm nước   giếng khoan lên ngâm. Bình quân mỗi ngày có hàng trăm tấn nứa được đưa về xã qua sơ  chế sau đó được ngâm nhiều ngày trong MT nước (90 ngày). Nước ngâm nứa có màu đen, mùi nồng nặc nhưng các hộ dân đổ ngay ra hệ thống tiêu thoát của xóm nên nước ở các  kênh rạch trong xã đều ở tình trạng ô nhiễm. Mặt khác, qua khảo sát 100 hộ chế biến, chỉ   có 04 hộ có nhà vệ sinh riêng phục vụ SX và vệ sinh cá nhân; 92 hộ có 01 nhà vệ  sinh  trong khu vực SX (trong đó, có 71 hộ sử dụng nhà vệ sinh trong khu vực SX cũng là nhà   vệ sinh chung của hộ gia đình). Đặc biệt, trong số 100 hộ gia đình của mẫu được khảo sát  có 04 hộ không có nhà vệ sinh, vì ở vị trí gần sông nên tất cả chất thải đều xả thải trực tiếp ra MT, trong đó có 01 hộ sử dụng nước sông để phục vụ SX.

Riêng công tác tập huấn về an toàn vệ sinh chưa được các cơ sở chú trọng thực hiện theo định kỳ, chỉ có một vài cơ sở tổ chức tập huấn an toàn sệ sinh 01 lần/năm cho đội ngũ công nhân chế biến, các cơ sở khác chỉ tập huấn cho công nhân khi đào tạo nghề ban đầu   và chỉ tổ chức tập huấn khi có chương trình tập huấn của các cơ quan quản lý nhà nước.  Qua khảo sát, có 80/100 hộ gia đình được tập huấn về an toàn vệ sinh mỗi năm, trong đó 35/100 hộ được tập huấn 01 lần/năm, 37/100 hộ được tập huấn 02 lần/năm và 8/100 hộ nhiều hơn 02 lần/năm. Tuy nhiên, việc áp dụng những kiến thức đã được tập huấn còn hạn chế, do thiếu vốn và cơ sở vật chất không đảm bảo. Mặt khác, phần lớn hộ SX cho rằng  thực hiện tốt vệ sinh an toàn cũng không tăng thêm lợi nhuận, nhưng tốn nhiều công sức hơn và gia tăng chi phí hơn so với các hộ không thực hiện. Do đó, số hộ áp dụng kiến thức được tập huấn vào SX rất thấp, đây là dấu hiệu thiếu bền vững nếu không có những chính sách can thiệp kịp thời.