Hoạt động kinh doanh về sản xuất và thương mại hàng thủ công mỹ nghệ mây tre lá của việt nam

Trong khi các hộ gia đình hầu như không sử dụng vốn vay, do quy mô SX nhỏ và tiếp cận tín dụng từ các ngân hàng khó khăn, ngược lại các cơ sở SX và DN xuất khẩu sử dụng vốn vay là khá lớn. Trong 100 cơ sở SX, DN kinh doanh có đến hơn 50 DN có tỷ lệ vốn vay trên vốn chủ sở hữu hàng năm dao động từ 100% đến 200%; 30 DN có tỷ lệ vốn vay trên vốn chủ sở hữu khoảng 40 – 50%. Xét về lý thuyết đòn bẩy tài chính, sử dụng vốn vay càng nhiều, DN sẽ càng có tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu càng cao. Điều này chứng tỏ DN đang gặp nhiều khó khăn trong xoay sở nguồn vốn và hoạt động kinh doanh tiềm ẩn rủi ro.

Phần lớn các hộ SX không có khả năng hạch toán KD, khó kiểm soát  chi tiêu,  không tách rời giữa chi phí SX và chi phí phục vụ cho đời sống gia đình, dẫn đến thâm hụt vốn SX. Qua khảo sát, có khoảng 80% hộ gia đình mong muốn được hỗ  trợ  vốn SX,  nhưng chưa hoạch định được phương án mở rộng SX kinh doanh khi có vốn; có 07/100 hộ cho rằng hoạt động SX, kinh doanh của hộ ngày càng phát triển, trong khi 50/100 hộ nhận định mô hình hộ SX chế biến ngày càng khó khăn và 43/100 hộ đánh giá SX theo quy mô hộ thất thường, thiếu ổn định. Nguyên nhân chủ yếu là do nguồn NVL đầu vào không ổn định và ngày càng khan hiếm trong khi tiêu thụ SP đầu ra rất khó khăn.

Mặt khác, hầu hết các công ty XK có kinh nghiệm  nhiều năm trong lĩnh vực XK  hàng TCMN mây tre lá và nắm bắt các thông tin yêu cầu của TT. Họ là các DN có tiềm lực lớn về tài chính, dễ dàng tiếp cận vốn vay ngân hàng, có chiến lược phát triển TT dài hạn, có thể thực hiện các đơn hàng lớn, hỗ trợ làng nghề, tham gia hội chợ thương mại để tìm kiếm khách hàng. Họ đặt hàng tại các cơ sở SX, cung cấp NVL, trong một số trường hợp họ còn ứng trước từ 30-70% giá trị đơn hàng cho nhà cung cấp.

Theo khảo sát, đa số các DN ở phía Bắc mới SX đạt trung bình 55% công suất và  các DN phía Nam đạt mức  trung bình khoảng 65% công suất SX. Các DN hoàn toàn có  khả năng mở rộng quy mô SX bằng cách tuyển dụng thêm lao động, tăng thời gian làm  việc, một số DN sẵn sàng đầu tư thêm thiết bị SX.

Xu hướng phát triển các mặt hàng TCMN mây tre lá cho TT nội địa còn hạn chế, trong số các làng nghề khảo sát có khoảng 26% doanh thu đạt được từ bán hàng nội  địa,  chủ yếu là bán các mặt hàng để đựng hoa quả, giỏ đựng hoa, công cụ đánh bắt cá, đồ bàn ghế nội thất… Một phần rất bé được cung cấp cho các cửa  hàng bán đồ lưu niệm tại Hà  Nội, các điểm dừng chân và giới thiệu SP tại các trung tâm du lịch…

Rất nhiều chủ DN và người SX gặp vấn đề thiếu thông tin. Kết  quả  điều tra cho  thấy các làng nghề chủ yếu tự mình tìm kiếm thông tin về  mẫu mã, giá và chất lượng  (29,69 – 33,61%). Một phần các thông tin được cung cấp bởi các DN thu mua và khách  hàng nước ngoài.

Trên thực tế, người SX ở các làng nghề chỉ biết SX hàng theo yêu cầu của các chủ thu gom hoặc các DN đặt hàng mà thường không biết rõ mục  đích sử  dụng, TT tiêu thụ,  giá cả… Điều này cũng hạn chế phần nào khả năng tự tổ chức quản lý chất lượng ngay tại khâu SX, chẳng hạn cần tuân thủ chặt chẽ các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với các loại khay đựng đồ ăn chẳng hạn. Nhiều hiệp hội đã được hình thành tuy nhiên vai  trò cung cấp thông tin của các hiệp hội này còn rất hạn chế do sự hạn chế của nguồn nhân lực, và chính bởi sự hạn chế này mà các hiệp hội địa phương cũng có nguy cơ dần đánh   mất đi uy tín của mình trong việc hỗ trợ phát triển làng nghề tại địa phương, nhiều hiệp hội gần như không hoạt động.