Kế toán mua bán ngoại tệ ở trong nước

Theo quy định, Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước phải căn cứ vào nhu cầu chi ngoại tệ của Chính phủ, kế hoạch mua ngoại tệ hàng quý, trình Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định cơ cấu từng loại tiền và danh mục ngân hàng gửi tiền trong từng thời kỳ. Kế toán nghiệp vụ này ở Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước thường được thực hiện trên cơ sở kết quả hoạt động từng phiên của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, trong đó, Ngân hàng Nhà nước là người mua, người bán cuối cùng và thực hiện can thiệp khi cần thiết vì mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia.

1. Kế toán mua ngoại tệ:

– Khi mua được ngoại tệ, Sở Giao dịch lập chứng từ hạch toán ngoại tệ đã mua:

Nợ TK Thích hợp (ví dụ TK 1211 “Ngoại tệ tại quỹ”, TK 1221 “Chứng từ có giá trị ngoại tệ tại quỹ”)
Có TK 4811:Quỹ dự trữ ngoại hối

+ Lập chứng từ thanh toán tiền Việt Nam cho bên bán ngoại tệ và ghi:

Nợ TK 3639: Các khoản khác phải thu (ở nội bộ) (tiểu khoản thanh toán với Vụ Kế toán – Tài chính về tiền mua ngoại tệ)
Có TK Thích hợp (ví dụ TK 1021 “Tiền đủ tiêu chuẩn lưu thông thuộc Quỹ nghiệp vụ” hoặc TK tiền gửi của bên bán ngoại tệ).

Cuối ngày, Sở Giao dịch phải chuyển số tiền VNĐ đã ứng chi mua ngoại tệ trong ngày về Vụ Kế toán – Tài chính bằng cách lập phiếu và ghi:

Nợ TK 5111: Chuyển tiền đi năm nay
Có TK 3639: Các khoản khác phải thu

Vụ Kế toán – Tài chính nhận điện chuyển tiền, sau khi kiểm soát thấy hợp lệ thì ghi:

Nợ TK 4812: Thanh toán, mua bán ngoại hối thuộc Quỹ dự trữ ngoại hối.
Có TK 5112: Chuyển tiền đến năm nay

2. Kế toán bán ngoại tệ:

Bút toán 1: Phản ánh thu VND

– Khi bán ngoại tệ xong, Sở Giao dịch lập chứng từ hạch toán số ngoại tệ đã bán:

Nợ TK thích hợp (ví dụ TK tiền gửi VNĐ của bên mua ngoại tệ, TK 1021 “Tiền VNĐ đủ tiêu chuẩn lưu thông thuộc Quỹ nghiệp vụ).
Có TK 4639 “Các khoản khác phải trả” (tiểu khoản thanh toán với Vụ Kế toán – Tài chính về tiền bán ngoại tệ)

Bút toán 2: Phản ánh xuất ngoại tệ ra

Nợ TK 4811 ” Quỹ dự trữ ngoại hối”.
Có TK Thích hợp (ví dụ TK 1211″Ngoại tệ tại quỹ”, TK1221 “Chứng từ có giá trị ngoại tệ tại quỹ”).

Cuối ngày, Sở Giao dịch phải chuyển số tiền VNĐ thu bán ngoại tệ trong ngày về Vụ Kế toán – Tài chính bằng cách lập phiếu và ghi:

Nợ TK 4639: Các khoản khác phải trả
Có TK 5111: Chuyển tiền đi năm nay

Vụ Kế toán – Tài chính nhận được điện chuyển tiền trên thì ghi:

Nợ TK 5112: Chuyển tiền đến năm nay
Có TK 4812: Thanh toán,mua bán ngoại hối thuộc Quỹ dự trữ ngoại hối.

Trong nhiều trường hợp, việc mua bán ngoại tệ của Sở Giao dịch còn liên quan đến các tài khoản:

– TK 235 “Sử dụng ngoại hối theo lệnh Chính phủ”
– TK 239 “Thanh toán khác với Nhà nước”
– TK 4412 “Tiền gửi Kho bạc Nhà nước bằng ngoại tệ”

Trong trường hợp Thống đốc Ngân hàng Nhà nước giao cho Chi nhánh nào đó mua bán ngoại tệ cho Ngân hàng Nhà nước Trung ương thì ngoài các bút toán phản ánh quan hệ mua bán ngoại tệ, còn có các bút toán phản ánh quan hệ thanh toán lẫn nhau số tiền Việt Nam và ngoại tệ với Sở Giao dịch và Vụ Kế toán – Tài chính Ngân hàng Nhà nước.

3. Kế toán việc đánh giá lại ngoại tệ vào ngày cuối tháng:

Việc mua bán ngoại tệ thực hiện tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước được hạch toán vào tài khoản mua bán ngoại tệ có quy ra tiền Việt Nam theo tỷ giá thực tế ở ngày mua bán. Vụ Kế toán – Tài chính thanh toán số tiền Việt Nam thực sự thu chi và ghi vào tài khoản thanh toán mua bán ngoại tệ. Vào ngày cuối tháng, Vụ Kế toán – Tài chính phải đối chiếu số dư Nợ tiền Việt Nam trên tài khoản 4812 “Thanh toán mua bán ngoại hối thuộc Quỹ dự trữ ngoại hối” với số dư Có tài khoản 4811 “Quỹ dự trữ ngoại hối” (sau khi đã đánh giá lại theo tỷ giá mua thực tế ngày cuối tháng) để xác định số chênh lệch bằng VNĐ và lập chứng từ ghi:

(1) Nợ TK 6310: Chênh lệch tỷ giá hối đoái
Có TK 4812: Thanh toán, mua bán ngoại hối thuộc Quỹ dự trữ ngoại hối (nếu số chênh lệch giảm)
(2) Nợ TK 4812: Thanh toán mua bán ngoại hối thuộc Quỹ dự trữ ngoại hối.
Có TK 6310: Chênh lệch tỷ giá hối đoái (nếu số chênh lệch tăng).

Số chênh lệch ngoại tệ thể hiện ở số dư tài khoản 6310 không hạch toán vào thu nhập hay chi phí mà để nguyên và kế toán Ngân hàng Nhà nước dùng số liệu này để ghi vào Báo cáo tài chính.