Kế toán tiền gửi Kho bạc Nhà nước

Theo luật định, Kho bạc Nhà nước cũng là một đơn vị được mở tài khoản tiền gửi ở Ngân hàng Nhà nước cùng địa bàn hoạt động, trường hợp ở nơi không có chi nhánh Ngân hàng Nhà nước thì được mở tài khoản tại 1 đơn vị ngân hàng thương mại nhà nước.

Thủ tục mở tài khoản và quyền hạn trách nhiệm của Kho bạc Nhà nước trong việc quản lý và sử dụng tài khoản này về cơ bản cũng tương tự như đối với TCTD. Tuy nhiên, do chức năng luật định của Kho bạc Nhà nước khác nhiều so với chức năng của các TCTD, nên số lượng loại tài khoản tiền gửi và nguồn bổ sung cho tiền gửi này từ Ngân hàng Nhà nước cũng bị hạn chế hơn. Cụ thể là Kho bạc Nhà nước hiện có các tài khoản tiền gửi sau đây tại Ngân hàng Nhà nước:

– TK 4411: Tiền gửi Kho bạc Nhà nước bằng VNĐ
– TK 4412: Tiền gửi Kho bạc Nhà nước bằng ngoại tệ

Nguồn tiền bổ sung cho các tài khoản tiền gửi này từ Ngân hàng Nhà nước theo lệnh Chính phủ có thể được thực hiện trong quan hệ với các tài khoản dưới đây, đồng thời việc hạch toán có thể gắn liền với nội dung cung ứng tiền (phương tiện thanh toán) cho nền kinh tế theo chính sách tài chính tiền tệ quốc gia:

– TK 233: Tạm ứng cho Ngân sách Trung ương
– TK 234: Chuyển vốn vay nước ngoài cho Ngân sách Nhà nước
– TK 235: Sử dụng ngoại hối theo lệnh của Chính phủ
– TK 239: Thanh toán khác với Nhà nước
– TK 231. TK 232 và TK 971, TK 972, TK 973 v..v…

Ngoài ra, khi áp dụng thị trường mở hoặc thực hiện đại lý cho Kho bạc Nhà nước về tín dụng Nhà nước thì Sở Giao dịch, Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước còn dùng các tài khoản nội bảng thích hợp khác.
Về hạch toán và kiểm tra trong nghiệp vụ tiền gửi đối với Kho bạc Nhà nước tại Sở Giao dịch, chi nhánh Ngân hàng Nhà nước thì cơ bản cũng tương tự như đối với các TCTD.