Kết quả chính của nghiên cứu mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội và hiệu quả hoạt động

Nghiên cứu được hoàn thành với các kết quả như sau:

(1). Về nghiên cứu sơ bộ: Kết quả của kiểm định độ tin cậy của thang đo thông qua kiểm định Cronbach Alpha đều đạt được độ tin cậy và giá trị cho phép, tất cả các thang đo được đưa vào nghiên cứu khi kiểm định độ tin cậy đều đạt được độ tin cậy với dữ liệu thị trường. Như vậy thang đo lý thuyết phù hợp với nghiên cứu tại thị trường Đồng bằng sông Cửu Long – Việt Nam. Thang đo lý thuyết này cũng tương đồng với thang đo lý thuyết của Sweeney.

(2). Kết quả nghiên cứu cho thấy việc đo lường khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm việc đo lường việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với các bên liên quan đó là: (1) môi trường, (2) khách hàng, (3) nhân viên, (4) nhà cung ứng và (5) cộng đồng. Điều này cũng phù hợp với các nghiên cứu trước đó, phù hợp với nghiên cứu của Sweeney (2004).

(3) Kết quả đo lường khái niệm lợi ích kinh doanh được đo lường bởi bốn khái niệm: (1) Lòng trung thành của khách hàng, (2) Lòng trung thành của nhân viên, (3) Khả năng tiếp cận vốn và (4) Danh tiếng của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, đó là kết quả của kiểm định Cronbach’s Alpha thì các thang đo đều phù hợp với lý thuyết và đạt độ tin cậy cao. Song, khi phân tích tiếp đến nhân tố khám phá thì các thang đo có một vài thay đổi nhỏ.

Cụ thể với khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm các khái niệm trách nhiệm đối với môi trường, cộng đồng và nhà cung ứng đều đạt được giá trị phân biệt và giá trị hội tụ, thì khái niệm khách hàng và nhân viên lại không đạt được giá trị phân biệt, hai khái niệm này khi thực hiện phân tích nhân tố khám phá trong nghiên cứu sơ bộ thì lại gom nhóm cùng nhau, tuy nhiên nghiên cứu đã biện luận việc khẳng định lại giá trị phân biệt và hội tụ của hai khái niệm này sẽ được kiểm định lại bằng phân tích nhân tố khẳng định trong chương 4 vì nghiên cứu liên hệ với thực tiễn doanh nghiệp hoạt động ở Đồng bằng sông Cửu Long và nhận định riêng của tác giả đã giữ lại việc kiểm định hai khái niệm này và thực tế chương 4 đã kiểm định lại các giá trị phân biệt hội tụ và tính đơn hướng của hai khái niệm này đều đạt yêu cầu của nghiên cứu (được trình bày cụ thể trong chương 4);

Tiếp tục việc thay đổi của thang đo của nghiên so với lý thuyết đó là thang đo lợi ích kinh doanh, khi kiểm định độ tin vậy đều đạt giá trị cao, song khi đưa vào phân tích nhân tố khám phá thì khái niệm danh tiếng của doanh nghiệp không đạt giá trị hội tụ và giá trị phân biệt. Do đó, nghiên cứu đã không đưa khái niệm này vào mô hình nghiên cứu. Như vây, khái niệm lợi ích kinh doanh chỉ được đo lường bởi ba khái niệm: lòng trung thành của nhân viên, khách hàng và khả năng tiếp cận vốn.