Kết quả đầu tư phát triển thủy lợi vùng đồng bằng sông Cửu Long

4.1.4.1 Tình hình đầu tư phát triển thủy lợi ở đồng bằng sông Cửu Long

Với diện tích tự nhiên gần 4 triệu ha, dân số 17 triệu người, là địa bàn kinh tế có tiềm năng to lớn về nhiều mặt, nhất là về nông nghiệp và thuỷ sản, có vị trí trọng yếu đối với sự phát triển của cả nước. ĐBSCL hiện đang đóng góp gần 50% sản lượng lương thực, 65% sản lượng thủy sản và phần lớn lương thực xuất khẩu của cả nước, góp phần quyết định đảm bảo  an ninh lương thực quốc gia.

Tuy nhiên nguồn nước sông Mê Kông (khoảng 500 tỷ m3 nước/năm) mang nhiều phù sa, thuỷ sản có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với dân sinh, kinh tế trong vùng, nhưng phân bố rất không đều theo thời gian và không gian, 90% lượng nước tập trung vào mùa mưa (từ tháng VI đến tháng XI), gây úng lụt lớn . Những tháng mùa khô thường xảy ra thiếu nước nghiêm trọng, mặn xâm nhập sâu vào đất liền. Do bất thường của khí hậu và  những tác động tiêu cực từ thượng nguồn mà chỉ trong mấy năm gần đây, chúng ta đã phải liên tiếp đối  phó với các trận lũ lớn lịch sử và các đợt hạn hán cực kỳ gay gắt. Hệ thống thuỷ lợi ở ĐBSCL (gồm những kênh trục lớn tạo nguồn, kênh nhánh, các cống điều tiết,..) gắn liền với nguồn nước của sông Tiền và sông Hậu luôn luôn làm nhiệm vụ tổng hợp: dẫn nước ngọt cho toàn đồng bằng vào  mùa khô, còn vào mùa mưa thì tham gia kiểm soát lũ, tiêu phèn.

Trong những năm 1996-2005 Chính phủ đã đầu tư cho thủy lợi 7.261 tỷ đồng (giao Bộ Nông nghiệp và PTNT quản lý 3.890 tỷ đồng chiếm tỷ lệ 54%, và vốn địa phương quản lý là: 3371 tỷ đồng, chiếm 46%), trong đó, 5 năm đầu chủ yếu triển khai các công trình ở vùng ngập sâu và 5 năm gần đây chủ yếu cho dự án ODA Thuỷ lợi ĐBSCL do Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ với tổng mức đầu tư là 2133 tỷ đồng tại TP Cần Thơ và 6 tỉnh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh. Cụ thể từng vùng:

1. Vùng tứ giác Long Xuyên:

Là vùng ngập sâu, diện tích gần 50 vạn ha (thuộc 2 tỉnh An Giang và Kiên Giang), chịu ảnh hưởng trực tiếp lũ tràn qua biên giới và dòng chính sông Hậu. Đã cơ bản hoàn thành tuyến ngăn lũ tràn biên giới bờ nam kênh Vĩnh Tế gồm các đoạn Châu Đốc-Tịnh Biên và Ba Chúc-Hà Giang. Kênh Vĩnh Tế (đáy rộng 30 m ở cao trình -3m) để dẫn lũ có lưu lượng 1500m3/s, tới cao trình +3,8m (về mùa khô có thể dẫn lưu lượng tưới 37 m3/s). Xây dựng đường tràn Xuân Tô để thoát lưu lượng 1220m3/s, các đập cao su Trà Sư, Tha La để thoát lũ có lưu lượng 700m3/s về hướng Tri Tôn-Hòn Đất. Đào kênh T5, 23 kênh thoát lũ nối kênh Rạch Giá-Hà Tiên ra biển Tây cùng với các cống cuối kênh,  mở rộng các kênh T3,T4,T6, Tám Ngàn,… Những kênh này vừa làm nhiệm vụ thoát lũ, vừa góp phần tiêu phèn, cấp nước mùa khô, tạo nên một vùng sản xuất trù phú. Khi đào kênh, đã có sự phối hợp tốt giữa giao thông và thuỷ lợi, kịp thời mở rộng các cầu giao thông để tăng khả năng thoát lũ và đảm bảo đi lại thông suốt trên Quốc lộ 80 trong mùa lũ.

Đây là vùng được đầu tư tương đối hoàn chỉnh, theo quy hoạch kiểm soát lũ, đạt khoảng 80% kế hoạch, tham gia thoát lũ có hiệu quả.

2.  Vùng Đồng Tháp Mười:

Là vùng ngập sâu trong nội địa (thuộc các tỉnh Đồng Tháp, Long An và một phần Tiền Giang), diện tích 70 vạn ha, tiêu thoát lũ khó khăn. Trước đây, do thiếu nước, nhiễm phèn và ngập lụt, nên chỉ canh tác 1 vụ lúa nổi năng suất thấp.  Cùng với một số kênh trục tạo nguồn nước từ sông Tiền đã có từ trước, các kênh nối sông Tiền với sông Vàm Cỏ Tây như: Hồng Ngự, Tân Thành-Lò Gạch, Sở Hạ-Long Khốt,.. được đào và mở rộng đã góp phần tăng diện tích canh tác (khai hoang 8 vạn ha), tăng vụ (2 vụ “ăn chắc”) đạt  năng suất cao. Kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng phát triển nhanh chóng. Khi đào và nạo vét các kênh Sở Hạ-Long Khốt, Tân Thành-Lò Gạch, đất đào được đắp lên bờ phía nam tạo tuyến giao thông, dân cư và góp phần hạn chế lũ tràn qua biên giới vào trung tâm Đồng Tháp Mười. Đã nạo vét, mở rộng các  kênh 79, Sở Hạ – Cái Cỏ, Cái Bèo, Hưng Điền, 307, Ông Mười, Bà Kỳ,.. tạo tuyến giao thông, dân cư dọc bờ kênh, dẫn nước tưới trong mùa khô và thoát lũ ra dòng chính sông Tiền., Một số đê bao (Tân Hồng, Sa Rài, Tân Hưng, Mộc Hoá, Vĩnh Hưng, Cao Lãnh,..) kết hợp ngăn lũ và giao thông đã phát huy hiệu quả cao, ổn định sinh hoạt tại các đô thị, khu dân cư.

3. Vùng bắc kênh Vĩnh An là vùng ngập sâu đầu nguồn diện tích hơn 3 vạn ha, dân số 61 vạn người (thuộc 2 huyện An Phú và Tân Châu, tỉnh An Giang), chịu ảnh hưởng trực tiếp lũ tràn qua biên giới giữa dòng chính sông Tiền và sông Hậu. Đã nạo vét và đắp bờ đoạn chính kênh “7 xã” kết hợp làm tuyến dân cư và đường giao thông an toàn vượt lũ (toàn bộ tuyến dài 85km).

4. Các dự án ngọt hoá với hệ thống đê ngăn mặn, kênh dẫn nước ngọt và cống tiêu úng, chủ động ngăn lũ úng, ngăn mặn, tiêu phèn, được triển khai tại những vùng ít chịu ảnh hưởng lũ nhưng bị ảnh hưởng mặn trong mùa khô đạt  hiệu quả cao

* Các hệ thống Gò Công (khoảng 5 vạn ha tại Tiền Giang) , Nhật Tảo – Tân Trụ (khoảng 2 vạn ha giữa 2 sông Vàm Cỏ tại Long An) đã được hoàn thành. Hệ thống Bắc Vàm Nao (hơn 3 vạn ha nằm giữa sông Tiền, sông Hậu, sông Vàm Nao và kênh Vĩnh An, chủ yếu là huyện Phú Tân  (An Giang)) đã xây dựng các đê bao và cống tưới tiêu. Hệ thống Bảo Định (khoảng 6 vạn ha tại Tiền Giang) đã làm một số cống.

* Trong hệ thống Bắc Bến Tre đã làm xong cống Ba Lai (các hạng mục khác như : đê, cống trên các sông Giao Hoà, Chẹt Sậy, Hàm Luông, Mỹ Tho,.. chưa thực hiện).

* Hệ thống Quản Lộ – Phụng Hiệp nhằm ngọt hoá cho vùng có diện tích tự nhiên 31 vạn ha bởi kênh trục tạo nguồn (kênh Quản Lộ – Phụng Hiệp) và các kênh nhánh chuyển nước sông Hậu tưới từ Sóc Trăng xuống Bạc Liêu, Cà Mau,… cùng với các cống ngăn mặn xâm nhập từ phía nam quốc lộ 1A (25 kênh và cống: Nàng Rền, Mỹ Tú, Cầu Sập, Ngàn Dừa-Bạc Liêu, Phước Long-Vĩnh Mỹ, Phó Sinh, Chủ Chí, Láng Trâm, Tam Sóc, Rạch Rê v.v..). Tuy chưa thực sự hoàn thiện việc ngăn mặn từ sông Cái Lớn phía bắc nhưng hệ thống đã phát huy hiệu quả tốt  trong thập kỷ trước, góp phần giữ vững an ninh lương thực và tăng lượng gạo xuất khẩu. Mấy năm gần đây, khoảng 50% diện tích trong vùng chuyển sang nuôi tôm nước lợ, nhiều kênh dẫn nước ngọt trước đây được dùng để lấy nước mặn. Hệ thống được vận hành rất khác so với thiết kế ban đầu. Hiện đang có sự điều chỉnh một số hạng mục của dự án để phù hợp với sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và dân sinh.

* Hệ thống Tiếp Nhật và Ba Rinh-Tà Liêm (Sóc Trăng) có diện tích tự nhiên hơn 18 vạn ha, đã cơ bản hoàn thành hệ thống đê biển, cống đập ngăn mặn, giữ ngọt.

* Hệ thống Nam Măng Thít nhằm tạo nguồn tưới ổn định để phát triển toàn diện cho diện tích tự nhiên khoảng 29 vạn ha phía nam sông Măng Thít (Trà Vinh, Vĩnh Long) bằng những cống đập ngăn mặn và mạng kênh dẫn nước ngọt. Đã hoàn thành 18 cống lớn (Nhà Thờ, Vàm Buôn, Trẹm, Thâu Râu, Chà Và, Vĩnh Bình, Vĩnh Kim, Bắc Trang, Bà Trầm – Diệp Thạch,..) và cơ bản hoàn thành (đã thông nước) 3 cống lớn nhất tại ĐBSCL (Láng Thé, Cái Hóp, Cần Chông) với khẩu độ 80~100m.

* Hệ thống Ô Môn-Xà No nhằm kiểm soát lũ, tiêu thoát úng, phèn, ngăn mặn góp phần ổn định và phát triển sản xuất cả năm cho khoảng 20 vạn ha (TP Cần Thơ, Hậu Giang, Kiên Giang) tiến tới hoàn toàn chủ động về mùa vụ. Đã hoàn thành kênh KH6, cống KH8. Đang triển khai cống KH9 và các đê bao Tắc Ông Thục, Ô Môn, Xà No.

Dự án WB2 tài trợ để hoàn chỉnh một phần hệ thống Quản Lộ – Phụng Hiệp và toàn bộ các hệ thống Tiếp Nhật, Ba Rinh-Tà Liêm, Nam Mang Thít, Ô Môn-Xà No từ năm 2000 đến 2007, ngoài mục tiêu thuỷ lợi còn góp phần xây dựng nông thôn mới: cải thiện giao thông nông thôn (kiên cố hoá mặt đê bao, bờ kênh, xây hàng trăm cầu qua sông và các kênh,..), tăng cường 1,2 triệu điểm cấp nước sinh hoạt nông thôn cho toàn đồng bằng.

5. Đê biển giữ vai trò rất quan trọng để phát triển kinh tế xã hội vùng kinh tế ven biển, kết hợp thoát lũ, kiểm soát mặn, ngăn triều, giao thông. Chính phủ đã chỉ đạo triển khai đê biển Nam bộ (nâng cấp những đoạn đã có, làm những đoạn  mới để nối liền tuyến tại ven biển Đông và ven biển Tây với tổng chiều dài 1379km (trong đó đê biển 637km, đê cửa sông 742km), tổng vốn đầu tư 1450 tỷ đồng. Đến nay đã xây dựng hơn 600 km đê, 28 cầu trên đê, 82 cống ngăn mặn và hơn 1km kè biển với khối lượng đất 14 triệu m3.

6. Sạt lở bờ sông, bờ biển là những hiện tượng thường gặp do tác động dòng chảy trong sông và ven biển. Sạt lở bờ biển chủ yếu xảy ra ở một vài điểm  tại Gò Công(Tiền Giang) và cửa sông Gành Hào (Bạc Liêu, Cà Mau). Sạt lở bờ sông cũng đã xảy ra ở nhiều nơi. Đã xây dựng 19 kè bảo vệ bờ sông, bờ biển nhằm bảo vệ các thành phố, thị xã, khu kinh tế, khu đông dân cư, với tổng chiều dài 44,76km, tổng kinh phí 1006 tỷ đồng tại các thị xã Vĩnh Long, Sa Đéc (Đồng Tháp), Trà Vinh, Tân An (Long An), Long Xuyên (An Giang), các thị trấn Tân Châu (An Giang), Gành Hào (Bạc Liêu),… Các kè được xây dựng đều đạt yêu cầu kỹ thuật, bảo vệ an toàn các mục tiêu theo thiết kế, góp phần chỉnh trang đô thị, mở mang giao thông, bảo vệ môi trường.

4.1.4.2. Ảnh hưởng của đầu tư phát triển thủy lợi tại đồng bằng sông Cửu Long

Phát triển thuỷ lợi tại ĐBSCL trong những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu to lớn đó là kết quả của việc quan tâm của Chính phủ và sự đồng tình ủng hộ của các địa phương trong công tác quy hoạch, giải phóng mặt bằng, đầu tư và huy động các nguồn lực tham gia xây dựng công trình thủy lợi, đã tạo nên những chuyển biến sâu sắc, những thay đổi quan trọng về sản xuất và đời sống tại  ĐBSCL. Các công trình thuỷ lợi đã góp phần đáng kể :

1. Giảm nhẹ úng lụt :

– Tăng nhanh khả năng thoát lũ, đạt mức 6000m3/s ra sông Tiền, ra sông Vàm Cỏ 3000m3/s , 4700 m3/s ra biển Tây.

– Giảm đỉnh lũ chính vụ từ 20-25cm trong vùng Tứ giác Long Xuyên. Làm giảm thiệt hại về người và của.

– Một số thị trấn, huyện lỵ ở Đồng Tháp Mười đã có đê bao, hàng loạt tuyến dân cư dọc bờ kênh các vùng ngập sâu đã có nền vượt lũ an toàn, đảm bảo an toàn cho người dân trong mùa lũ.

2. Cải thiện môi trường và hạ tầng nông thôn:

–  Cấp nước sinh hoạt cho khoảng 10 triệu người (66%) .

– Các hệ thống đường bộ, đường thuỷ được mở rộng và xây dựng mới kết hợp với hệ thống công trình thuỷ lợi đảm bảo giao thông thuận lợi giữa thành thị và nông thôn, các vùng.

– Nhiều đô thị được bảo vệ và chỉnh trang với những kè chống sạt lở như ở Sa Đét (Đồng Tháp), Mỹ Tho (Tiền Giang), Long Xuyên, Tân Châu (An Giang), thị xã Vĩnh Long, Cái Nhum (Vĩnh Long), Cần Thơ,..

– Môi trường sinh thái được cải thiện rõ rệt, nhất là những vùng được ngọt hoá.

3.  Phát triển thủy lợi đã góp phần phát triển  nông nghiệp tại đồng bằng sông Cửu Long:

Phát triển thủy lợi làm tăng khả năng tạo nguồn ngọt và phù sa vào sâu nội đồng, mở rộng diện tích khai hoang, tăng vụ cho 50 vạn ha, làm giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp bình quân tăng gần 7%/năm trong 5 năm (2001-2005). Giá trị sản xuất trên 1 ha đất canh tác bình quân tăng 12,2%/năm (từ 20,2 triệu đồng/ha năm 2000 lên gần 28 triệu đồng/ha năm 2005), trong đó những tỉnh đạt giá trị cao là: An Giang, Vĩnh Long, Tiền Giang đạt 37 triệu đ/ha.

Diện tích lúa giảm (khoảng 290.000 ha trong 5 năm gần đây do chuyển sang các loại cây trồng khác và nuôi thuỷ sản), nhưng năng suất lúa đạt bình quân 48,4 tạ/ha, tăng 5,6 tạ/ha, chất lượng tăng, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực của cả nước (sản lượng năm 2005 đạt trên 19 triệu tấn, vượt mức chỉ tiêu 3 triệu tấn), tăng khối lượng và giá trị xuất khẩu.

Bên cạnh đó, ĐBSCL có lợi thế tiềm năng đất ngập nước ven biển và bãi bồi ven các sông Tiền, sông Hậu, sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây,… thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản nên đã phát triển hơn 565.200 ha nuôi tôm và hơn 5.200 ha cá tra, cá ba sa nuôi trong ao, chiếm 76% diện tích nuôi trồng thủy sản của cả nước và dẫn đầu cả nước về sản lượng thủy sản và kim ngạch xuất khẩu. Giá trị xuất khẩu nông lâm, thủy sản hàng năm đạt trên 3 tỉ USD trong đó chủ yếu là gạo và thủy sản.

Như vậy nuôi trồng thủy sản đã trở thành thế mạnh kinh tế, tạo ra giá trị lớn góp phần xóa đói giảm nghèo cho hàng chục nghìn hộ nông dân, tăng kim ngạch xuất khẩu do vùng đồng bằng sông Cửu Long. Nhờ việc đầu tư đúng mức cho ngành nuôi trồng thủy sản kể cả ở vùng nước ngọt cũng như vùng mặn, lợ. Do hấp lực của giá trị thủy sản cao hơn nhiều lần so với trồng lúa nên bà con ở nhiều địa phương của các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang đã chuyển sang nuôi trồng thủy sản.

Ngoài ra thuỷ lợi tạo cho cuộc sống an toàn hơn và sản xuất chủ động hơn tại đồng bằng sông Cửu Long. Muốn đánh giá đúng và khách quan, cần đặt đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh lịch sử từ tự nhiên – liên quan đến các công trình của ông cha ta như kênh Vĩnh Tế – đến hệ thống kênh đào từ thời Pháp để lại, cùng với các công trình được xây dựng sau 30/4/1975 điển hình như kênh Hồng Ngự xuyên qua Đồng Tháp Mười, công trình mở đầu cho chương trình ngọt hóa Gò Công (Tiền Giang)… Về tổng thể, đồng bằng sông Cửu Long được chia thành 2 vùng lớn: Một nửa là vùng nước ngọt tiếp giáp với vùng nước mặn ven biển (không ngập lũ trực tiếp). Một nửa còn lại, mỗi năm đều có lũ về, dân thường gọi là mùa nước nổi do tác động trực tiếp từ nguồn lũ sông Mê Kông. Quá trình đầu tư phát triển hệ thống thuỷ lợi ở 2 vùng, thông qua các chương trình lớn đã góp phần tích cực đưa sản lượng lương thực tăng nhanh từ 4,7 triệu tấn năm 1976 lên 19,1 triệu tấn năm 2005. Về cơ bản, chủ trương đầu tư phát triển thuỷ lợi đối với từng vùng là hợp lý. Chủ trương xây dựng cụm tuyến dân cư vượt lũ là rất đúng đắn bởi nó rút ra từ kinh nghiệm “sống chung với lũ” của người dân, đã được chỉ đạo thực hiện một cách đúng đắn, đầu tư đồng bộ, cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh… Nhờ có hệ thống công trình thuỷ lợi đa mục tiêu, vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã đánh thức được tiềm năng của hai “kho đất” lớn ở Tứ giác Long xuyên và Đồng Tháp Mười. Hệ thống đê bao – bờ bao cũng dần hình thành và phát triển từ sáng kiến của người dân, được các nhà khoa học minh chứng bằng luận cứ, tính toán để Nhà nước có đủ cơ sở quan tâm, xem xét, đầu tư trên quy mô lớn hơn, hiệu quả hơn. Chính từ những đê bao – bờ bao đã hình thành hệ thống giao thông, nơi ở an toàn cho người dân vùng ngập lũ. Có thể khẳng định rằng, chính nhờ có hệ thống thuỷ lợi, nhất là đê bao – bờ bao mà cuộc sống của người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long ngày nay, được an toàn hơn, sản xuất chủ động (lúa, màu, cây ăn trái, thuỷ sản nước mặn, nước ngọt…), ngành nghề phát triển đa dạng, giao thông nông  thôn thông thoáng hơn.

Nói cách khác, hệ thống thuỷ lợi đã tạo ra nền tảng làm giàu cho vựa lúa hôm nay, góp phần đắc lực vào chương trình an ninh lương thực quốc gia và ổn định kinh tế – xã hội. Việc hình thành hệ thống thuỷ lợi – trong đó có đê bao – bờ bao để bảo vệ dân sinh, thoát nước nhanh vào mùa lũ, trữ ngọt, bẫy ngọt, rửa phèn, kiểm soát mặn – là một tất yếu của quy luật khách quan trước mắt cũng như lâu dài. Phát triển thủy lợi còn góp phần xóa đói giảm nghèo cho hàng chục nghìn hộ nông dân, tăng kim ngạch xuất khẩu do vùng đồng bằng sông Cửu Long.