Kết quả hồi quy tác động của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang phát triển

Để ước lượng chính xác tác động của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang phát triển, luận án sẽ sử dụng các phương pháp ước lượng khác nhau đối với mô hình dạng bảng tĩnh và mô hình dạng bảng động cho mẫu nghiên cứu tổng thể của toàn bộ 68 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 1996-2016. Đầu tiên, luận án thực hiện hồi quy lần lượt với 3 mô hình Pooed OLS, FEM và REM cho mô hình (1) dạng bảng tĩnh. Sau đó, luận án thực hiện kiểm định lựa chọn mô hình phù hợp. Kết quả kiểm định ở bảng 4.5 cho thấy: đối với kiểm định F-test có p-value < mức ý nghĩa α (1%) do đó mô hình FEM là phù hợp hơn mô hình Pooled OLS, đối với kiểm định Hausman Test có p- value = 0.0163 > mức ý nghĩa α (1%) do đó mô hình REM là phù hợp hơn mô hình FEM, đối với kiểm định Breusch-Pagan Lagrangian có p-value < mức ý nghĩa α (1%) do đó mô hình REM là phù hợp hơn mô hình Pooled OLS. Như vậy, mô hình REM là mô hình phù hợp hơn mô hình FEM và mô hình Pooled OLS. Tiếp theo, luận án sẽ thực hiện kiểm tra khuyết tật phương sai thay đổi và tự tương quan với mô hình REM được lựa chọn. Kết quả kiểm tra khuyết tật cho thấy: đối với kiểm định Heteroskedasticity có p-value < mức ý nghĩa α (1%) do đó mô hình REM bị hiện tượng phương sai thay đổi, đối với kiểm định Lagrange-Multiplier có p-value < mức ý nghĩa α (1%) do đó mô hình REM bị hiện tượng tự tương quan. Khi đó, luận án sử dụng phương pháp bình phương bé nhất tổng quát (GLS – Generalised Least Squares) để xử lý hiện tượng phương sai thay đổi và hiện tượng tự tương quan. Đối với mô hình dạng bảng động, để xử lý cả ba khuyết tật phương sai thay đổi, tự tương quan và hiện tượng nội sinh thì luận án sử dụng phương pháp ước lượng Moment tổng quát (GMM- Generized Method of Moments) được đề xuất bởi Arellanol Bond (1995) và Blundell and Bond (1998). Các kết quả ước lượng được trình bày ở bảng 4.4 như sau:

Thông qua bảng 4.4 cho thấy hệ số hồi quy của biến ODA ở các mô hình dạng bảng tĩnh và mô hình dạng bảng động với lần lượt các phương pháp ước lượng Pooled OLS, FEM, REM, GLS và phương pháp ước lượng System GMM đều mang dấu dương và có ý nghĩa thống kê ở mức 1% cho thấy tồn tại mối quan hệ cùng chiều giữa nguồn vốn ODA và tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia khảo sát. Các kết quả ước lượng đều cho kết quả thống nhất khẳng định nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tác động tích đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang phát triển. Nghĩa là các quốc gia tiếp nhận nguồn vốn ODA cao sẽ có tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng, trong khi đó các quốc gia tiếp nhận nguồn vốn ODA thấp sẽ có tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm hơn.

Kết quả thực nghiệm này hoàn toàn phù hợp với lý thuyết mô hình tăng trưởng Harrod-Dormar và trùng khớp với các nghiên cứu thực nghiệm trước đây, nguồn vốn ODA là nguồn vốn bổ sung cần thiết vào tổng vốn đầu tư xã hội tạo động lực để thúc đẩy phát triển kinh tế cho các quốc gia tiếp nhận nguồn vốn này. Đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức là một trong những nguồn tài chính quan trọng góp phần rất lớn trong công cuộc xây dựng, đổi mới và phát triển đất nước. Thông qua việc cung cấp vốn vào hoạt động đầu tư công để xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng, cải thiện các điều kiện xã hội, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) giữ vai trò đặc biệt trong hỗ trợ cải thiện hệ thống hạ tầng kinh tế – xã hội, tạo ra nguồn lực cần thiết để tài trợ cho các chương trình y tế sức khỏe, giáo dục, phát triển nông nghiệp, nông thôn, xóa đói giảm nghèo… Vì vậy, các quốc gia đang phát triển nên tận dụng và tăng cường việc khai thác nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA).

Để củng cố tính vững của kết quả ước lượng, luận án thực hiện kiểm định tác động của nguồn vốn ODA đến tăng trưởng kinh tế với từng nhóm mẫu nghiên cứu khác nhau gồm: nhóm quốc gia thu nhập thấp, nhóm quốc gia thu nhập trung bình thấp, nhóm quốc gia thu nhập trung bình khá và mẫu tổng thể. Kết quả kiểm định này được trình bày ở bảng 4.6 như sau:

Tính thuyết phục về kết quả ước lượng tác động của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) đến tăng trưởng kinh tế được củng cố khi hệ số hồi quy của biến ODA trong cả 4 mẫu nghiên cứu đều mang dấu dương và có ý nghĩa thống kê cao. Như vậy, ước lượng bằng phương pháp System GMM đối với từng nhóm quốc gia khác nhau và ước lượng các mô hình Pooed OLS, FEM và REM cho thấy dấu của biến ODA đều không thay đổi. Điều này cho thấy kết quả thực nghiệm sự tác động của biến ODA đến tăng trưởng kinh tế là vững. Kết quả nghiên cứu tác động này ủng hộ giả thuyết của luận án đưa ra và đồng thời trùng khớp với các nghiên cứu thực nghiệm trước đây của Papanek (1973), Dowling và Hiemenz (1982), Levy (1988), Karras (2006) và McGillivray (2005).

Kết quả nghiên cứu thực nghiệm đối với các nhóm quốc gia khác nhau phân loại theo thu nhập cũng cho thấy biến INVEST (vốn đầu tư toàn xã hội) có hệ số hồi quy mang dấu dương và có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, qua đó cho thấy vốn đầu tư toàn xã hội tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế của quốc gia với mức ý nghĩa cao. Kết quả này lần nữa khẳng định vai trò quan trọng của yếu tố vốn vật chất trong các mô hình tăng trưởng đã được đề cập trong các nghiên cứu trước đây, điều này cho thấy tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang phát triển vẫn phụ thuộc rất nhiều vào tăng trưởng vốn. Quả thực, tác động dương của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) đến tăng trưởng kinh tế trong luận án này ủng hộ quan điểm trường phái nghiên cứu của Craig Burnside và David Dollar (2000) cho rằng sự gia tăng nguồn vốn ODA góp phần làm tăng vốn đầu tư công dẫn đến làm tăng tổng vốn đầu tư toàn xã hội qua đó thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang phát triển.