Kết quả khảo sát về phát triển nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Dựa trên khảo sát với các đối tượng là cơ quan quản lý nhà nước, nông hộ và doanh nghiệp với 250 phiếu phát ra và thu về 121 phiếu hợp lệ tại địa bàn tỉnh Hải Dương (Ninh Giang, Bình Giang, Thanh Hà) kết quả như sau:

+ Đối với việc phát triển nông nghiệp có thật sự nghĩa hay không thì theo bảng C1 cho thấy các doanh nghiệp và hộ nông dân đều cho rằng việc phát triển nông nghiệp trong bối cảnh hội nhập là rất cần thiết (chiếm 86%)

+ Bảng C2 cho thấy hầu hết các đơn vị xuất khẩu nông sản và hộ nông dân đều thực hiện tốt các biện pháp thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp, trong đó chính sách về nguồn nhân lực (1,76) và cơ sở hạ tầng (1,70)

+ Bảng C3 cho thấy việc triển khai các hoạt động nhằm tăng cường hoạt động xuất khẩu đóng vai trò lớn trong việc xuất khẩu hàng nông sản của tỉnh. Hầu hết các hoạt động như Thường xuyên rà soát hệ thống kênh phân phối sản phẩm của mình; Xây dựng hình thức tổ chức sản xuất hợp l ; Tăng cường áp dụng khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp đều được đánh giá tương đối cao (xem các bảng c3.1 đến c3.4 thì tất cả các biện pháp này đều được đánh giá là thực hiện được (trên 50%)

+ Bảng C4 cho thấy tầm quan trọng của các biện pháp nhằm phát triển  nông nghiệp trong bối cảnh hội nhập là rất tốt, đóng vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp tỉnh Hải Dương

+ Bảng C5 đánh giá các biện pháp hỗ trợ triển khai các hoạt động xuất khẩu nông sản tỉnh Hải Dương cho thấy điểm trung bình của hầu hết các biện pháp là 3,11 tính theo thang điểm từ 1 đến 5, trong đó việc duy trì chất lượng sản phẩm nông sản xuất khẩu và gia tăng lợi ích cho sản phẩm xuất khẩu là thấp nhất (2,90 và 2,93) và đáng ngạc nhiên là việc tạo ra sự khác biệt trong sản phẩm là cao nhất (3,46). Trong khi đó việc cải tiến sản phẩm cũng nhƣ xây dựng văn hóa kinh doanh trong nông nghiệp ở mức trung bình (3,11 và 3,18) Điều này cho thấy mặc dù tỉnh đã có sự khuyến khích trong việc tạo ra sự khác biệt trong sản phẩm nông sản xuất khẩu, tuy nhiên lại chưa chú trọng đến việc nâng cao chất lượng cũng như lợi ích sản phẩm xuất khẩu.

+ Bảng C6 đánh giá về tầm quan trọng của các biện pháp được sử dụng nhằm phát triển các mặt hàng nông sản xuất khẩu cho thấy: điểm trung bình của hầu hết các biện pháp là 3,11 tính theo thang điểm từ 1 đến 5; trong đó việc xây dựng chính sách vốn và nâng cao hỗ trợ nguồn nhân lực là thấp nhất (2,90 và 2,93), trong khi việc hỗ trợ phát triển thị trường được đánh giá cao nhất (3,46). Điều này chứng tỏ tỉnh đã có sự chú trọng lớn tới việc mở rộng, tìm kiếm thị trường tiềm năng rất lớn, phục vụ cho hoạt động xuất khẩu. Còn các biện pháp như thu hút vốn FDI cũng như xây dựng cơ chế chính sách đạt được ở mức trung bình.

+ Bảng C7 đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới việc phát triển nông nghiệp trong quá trình hội nhập cho thấy điểm trung bình của hầu hết các biện pháp là 3,11 tính theo thang điểm từ 1 đến 2 thì hầu hết các nhân tố ảnh hưởng đều đạt ngưỡng trung bình (1,726), trong khi biến đổi khí hậu lại có giá trị thấp hơn mức trung bình (1,65).