Khả năng sản xuất, chế biến nông sản của nước CHDCND Lào

Mặt hàng cà phê

Diện tích trồng cà phê: Cà phê của nước CHDCND Lào chủ yếu được trồng ở vùng cao nguyên Bolaven gồm 3 vùng đất là huyện Pa Xoong – tỉnh Chămpasak, huyện Tha Teng – tỉnh Xêkoong, huyện Lao Ngam – tỉnh Salavan. Diện tích trồng cà phê vùng này chiếm tới 98 – 99% của diện tích sản xuất cả nước.

Diện tích giảm từ 10-6 ngàn ha năm 2004-2005, cụ thể, năm 2005 diện tích giảm 0,4 lần so với năm 2004 và 2006 giảm 0,2 lần so với 2004, do ngành cà phê thế giới rơi vào giai đoạn khủng hoảng thừa. Giá cà phê giảm đến mức kỷ lục vào 2005, 2006. Điều này đã đẩy người dân trồng cà phê đối mặt với cảnh nghèo, nợ nần, thậm chí có trường hợp phá sản. Người dân bỏ mặc diện tích cà phê không chăm sóc, có nơi chặt bỏ cà phê và thay thế bằng loại cây trồng khác. Trước tình hình rớt giá kỷ lục do sự khủng hoảng thừa này, lãnh đạo ngành cà phê nước CHDCND Lào vẫn chủ trương khuyến khích giữ gìn cây cà phê và mở rộng diện tích gieo trồng.

Năm 2007, giá cà phê đã được khôi phục và đạt ở mức cao nhất và được sự  giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, ngành cà phê của nước CHDCND Lào đã khôi phục phát triển, năm 2007 diện tích tăng lên 0,5 lần so với 2004, bằng 15 ngàn ha, năm  2014 tăng lên tới 84 ngàn ha và 2016 tăng lên 7,7 lần bằng 87 ngàn ha.

CHDCND Lào trồng hai loại cà phê chính là cà phê vối (cà phê Robusta) và cà phê chè (cà phê Arabica), Năng suất thu hoạch cà phê bình quân dao động khoảng 1,5- 2,5 tấn/ha, chủ yếu là cà phê vối, với 90% sản lượng và tỷ lệ xuất khẩu lên đến 97%

Theo sơ đồ ta thấy vùng Cao bằng BolyVen thuộc ba tỉnh như: Tỉnh Chăm Pa Sak, Sa La Văn và Xê Kong có diện tích trồng nhiều nhất chiếm 98-99% của diện tích cả nước.

Dưới đây là là một số chỉ tiêu so sánh hai loại giống cà phê Robusta) và cà phê chè (Arabica)

Chế biến và bảo quản cà phê: Ở nước CHDCND Lào chủ yếu chế biến cà phê nhân theo 2 phương pháp khô (đối với cà phê Robusta) và ướt (đối với cà phê Arabia). Theo ước tính, khả năng chế biến công nghiệp đáp ứng được từ 18.000 tấn đến 20.000 tấn cà phê xuất khẩu, còn lại là các cơ sở chế biến lẻ, nông dân tự chế biến bằng các phương pháp thủ công. Hiện nay ở nước CHDCND Lào, khâu phơi sấy và bảo quản cà phê chưa được quan tâm đúng mức. Một mặt, là do không đủ cơ sở vật chất, kho bãi để lưu trữ cà phê, mặt khác, quan trọng hơn là do thói quen. Thực tế, cà phê sau khi  hái về bị ủ đóng, khi phơi lại phơi tầng dày và được bảo quản khi độ ẩm còn cao hơn mức cho phép (cao hơn 14%) (độ ẩm cà phê tối đa có thể chấp nhận được là 13%, độ ẩm đạt 12% là tốt cho việc bảo quản). Chính hạn chế trong khâu bảo quản đã làm giảm chất lượng cà phê, dễ phát sinh nấm, mốc, tỷ lệ hạt ngả màu, hạt đen cao,…

Mặt hàng rau quả

Cao nguyên Bolaven nằm về phía nam của nước CHDCND Lào, có khí hậu ôn đới và điều kiện đất đai tốt, rất phù hợp với trồng và sản xuất các loại rau quả như: bắp cải, cải thảo, khoai tây, khoai lang, gừng, susu, cà rốt… Thời gian qua phần lớn là  trồng cà phê, rau quả và chè. Riêng rau quả được ưu tiên sản xuất đứng thứ hai sau cà phê. Đặc biệt khu vực Pacxong, tỉnh Chămpasak có diện tích đất sản xuất khoảng 392.710 ha, chiếm 60% của diện tích cao nguyên Bolaven. Nôngdân sản xuất rau quả để tiêu thụ trong nước và xuất khẩu sang Thái Lan.

Sản xuất rau quả của nước CHDCND Lào vẫn còn tiến hành rải rác, sản xuất chưa nhiều loại sản phẩm, việc tổ chức nhóm sản xuất còn hạn chế, cơ chế quản lý điều hành sản xuất chưa mạnh dạn và chưa có hệ thống kết nối với nhau.

Do đặc điểm khí hậu, trồng và sản xuất rau quả lớn chủ yếu tiến hành trong  mùa mưa, trong khi mùa khô rất khó khăn vì chưa có dự án thủy lợi nào để phục vụ cho sản xuất. Vì vậy hiệu quả sản xuất sản phẩm không đáp ứng được sự cần thiết của thị trường, mùa mưa mặt hàng nhiều giá cả thấp ngược lại mùa khô mặt hàng không  đủ mức tiêu thụ của người tiêu dùng. Trong sản xuất phần lớn hạt giống chủ yếu nhập khẩu từ nước ngoài, chủ yếu từ Thái Lan và Việt Nam. Người nông vấn có thói quen sự dùng phân bón hóa học để chăm sóc và bảo vệ thực vật. Việc đào tạo công nghệ kỹ thuật sản xuất cho người nông dân chưa đáp ứng được theo nhu cầu, công tác đầu tư cho hệ thống sản xuất rau quả còn hạn chế.

Theo thống kê, năm 2010 tổng diện tích trồng rau quả đạt 27.031 ha, sản lượng đạt 262.426 tấn. Đến 2014 diện tích trồng lại tăng lên 36.748 ha, sản lượng sản xuất đạt 535.361 tấn và năm 2015 sản lượng sản xuất đạt 37.862 ha, sản lượng sản xuất đạt 648.260 tấn. Điện tích tăng 1,3 lần và sản lượng tăng 2,4 lần so với năm 2010.

Mặt hàng gạo

CHDCND Lào nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới ẩm, nắng nhiều và mưa nhiều với các khu vực đồng bằng châu thổ rộng lớn.

Gạo đóng vai trò quan trọng trong 3 mặt hàng nông sản chủ lực của CHDCND Lào về các mặt an ninh lương thực, thu nhập, tạo công ăn việc làm cho khu vực nông thôn và doanh thu XK. Hiện nay gạo là một nhóm hàng phục vụ chủ yếu cho thị trường nội địa, chỉ có 30% tổng sản lượng được XK trong năm 2012 và năm 2016 sản lượng sản xuất được đạt 3,85 triệu tấn/ năm, tăng 5% so với năm 2014.Về diện tích sản xuất gạo tăng dần mỗi năm.

Hiện nay mặt hàng gạo được coi là hàng nông sản chủ lực của CHDCND Lào, do đó sản xuất gạo rất được chú trọng từ Chính phủ nước CHDCND Lào trong cả về tiềm năng sản xuất và diện tích sản xuất bằng các biện pháp, như thâm canh, xen canh, gối vụ hay áp dụng các biện pháp khoa học trong khâu gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch và tạo giống chất lượng tốt.

CHDCND Lào có thể sản xuất gạo với sản lượng đủ cho tiêu dùng nội địa và đảm bảo lương thực cho cả nước từ năm 2000, khu vực miền Bắc của nước CHDCND Lào sản xuất gạo nếp thơm ngon (gạo thơm Nang Nuôn, gạo thơm Xa Nghiêm) là loại giống truyền thống hạt lớn và dài. gạo Kay Noi là loại mặt hàng có giá trị tốt được người tiêu dùng yêu thích, tiêu thụ được giá cả tốt trong khu vực miền Bắc và Trung. Ngoài ra, còn có các loại giống tốt như: gạo tẻ của nước CHDCND Lào Xung, An noi và gạo tẻ Đeng, gạo Thađorkham 8 chất lượng sản xuất cao, Thadorkham 49 và Viêng Chăn 450-1 được Hiệp hội nhà máy chế biến gạo và nhà kinh doanh của nước CHDCND Lào trong khu vực miền Nam và Trung đưa giống này vào sản xuất để phân phối tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.