Các lý thuyết về trách nhiệm xã hội trong doanh nghiệp

Lý thuyết các bên liên quan đã xuất hiện như là một sự thay thế cho lý thuyết về cổ đông (Spence và cộng sự, 2001). Lý thuyết này nhận ra thực tế là hầu hết, nếu không phải nói rằng tất cả các công ty đều có một quan tâm lớn đến các bên liên quan (Cochran, 1994) mà họ có nghĩa vụ và trách nhiệm (Spence và cộng sự, 2001) phải cân đối trong các hoạt động.

Khi nhắc đến khái niệm phát triển bền vững hoặc trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, chắc chắn có một khái niệm không thể loại trừ, đó chính là “stakeholder” – tạm dịch là các đối tượng hữu quan. Khái niệm này được nhắc đến lần đầu tiên vào năm 1963 trong bản ghi nhớ nội bộ của Viện nghiên cứu Stanford, sau này đã được phát triển bởi R. Edward Freeman trong những năm 80; và trong số các nhà nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, R. Cowe và M. Hopkins đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng trong các hoạt động trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

Theo Freeman (1993), các bên hữu quan của công ty đó là các nhóm và cá nhân được hưởng lợi hoặc bị tổn hại, và có quyền lợi bị vi phạm hoặc được tôn trọng từ hành động của công ty. Nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì các bên hữu quan bao gồm những nhóm người rất quan trọng cho sự tồn tại và thành công của công ty. Ngược lại nếu hiểu theo nghĩa rộng thì các bên hữu quan bao gồm bất kỳ nhóm hoặc cá nhân có thể ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi các công ty.

Chủ sở hữu (Owners): là người có cổ phần trong công ty dưới dạng cổ phiếu, trái phiếu và họ mong đợi lợi nhuận từ công Các cổ đông có thể có được cổ phần bằng cách mua cổ phiếu của công ty hoặc là được thừa kế, tặng, cho theo quy định của pháp luật. Công ty có ảnh hưởng đến sinh kế của cổ đông hoặc một phần đáng kể thu nhập hưu trí của họ là từ cổ phiếu, trái phiếu.

– Người lao động (Employees): là những người mà sinh kế của họ thường bị đe dọa, kỹ năng chuyên môn của họ thường không phù hợp với tất cả thị trường. Người lao động dùng sức của mình để đổi lại tiền lương, bảo hiểm, lợi ích và công việc có ý nghĩa. Để có được lòng trung thành của nhân viên công ty sẽ đáp ứng những nhu cầu của họ và giúp người lao động vượt qua những khó khăn. Hầu hết thời gian của người lao động là phải thực hiện theo hướng dẫn của người quản lý.

Nhà cung cấp (Suppliers): là rất quan trọng cho sự thành công của công ty bởi vì nguyên liệu sẽ xác định được chất lượng và giá cả của sản phẩm cuối cùng. Ngược lại công ty cũng là khách hàng của nhà cung cấp nên cũng rất quan trọng đối với sự thành công của nhà cung cấp. Khi công ty xem nhà cung cấp như là một thành viên quan trọng của mạng lưới các đối tượng hữu quan, thay vì chỉ đơn giản như một nguồn nguyên liệu, thì các nhà cung cấp sẽ đáp ứng cho công ty một cách tốt nhất khi công ty có nhu cầu.

Customers (khách hàng): dùng tiền để mua hàng hóa của công ty và nhận lại được những lợi ích của sản phẩm. Với mức độ tái đầu tư các khoản thu nhập trong các công ty lớn, khách hàng gián tiếp trả tiền cho sự phát triển của các sản phẩm và dịch vụ mới. Peters và Waterman đã lập luận rằng gần gũi với khách hàng dẫn đến thành công với các đối tượng hữu quan khác và là một đặc điểm phân biệt của một số công ty cũng đã thực hiện là sự nhấn mạnh của họ vào khách hàng. Bằng cách chú ý đến nhu cầu của khách hàng, quản lý sẽ tự động giải quyết các nhu cầu của các nhà cung cấp và chủ sở hữu.

Cộng đồng địa phương (Local community): cung cấp cho công ty cơ sở hạ tầng, nguồn tiêu thụ, nguyên liệu. Ngược lại công ty phải đóng góp lại cho cộng đồng địa phương thông qua các khoản thuế và các khoản đóng góp cho kinh tế-xã hội của công Công ty không thể để cộng đồng đối diện với các mối nguy hiểm bất hợp lý như ô nhiễm hay chất độc hại. Nếu vì lý do nào đó công ty để xảy ra những trường hợp như vậy thì công ty sẽ phải làm việc lãnh đạo địa phương để tìm biện pháp khắc phục. Nếu doanh nghiệp làm mất đi mối quan hệ với cộng đồng địa phương thì đó là lúc công ty ở trong cùng vị trí với công dân phạm tội, có thể là do công ty đã vi phạm những cam kết ngầm giữa doanh nghiệp và xã hội và hình phạt sẽ là mất đi lòng tin của công đồng và bị tẩy chay.

Quản lý (Management): đóng một vai trò đặc biệt trong công ty, vì quản lý của có cổ phần trong công ty. Một mặt người quản lý tương tự như người lao động với một số hợp đồng lao động rõ ràng hoặc ngầm định. Mặt khác, quản lý có nhiệm vụ bảo vệ lợi ích của các chủ thể trừu tượng là tập đoàn. Quản lý phải giữ cho mối quan hệ giữa các bên liênn quan được cân bằng, Chủ sở hữu muốn lợi nhuận tài chính cao hơn, trong khi khách hàng muốn có thêm tiền chi cho nghiên cứu và phát triển.Nhân viên muốn mức lương cao hơn và lợi ích tốt hơn, trong khi cộng đồng địa phương muốn công viên tốt hơn và các cơ sở chăm sóc ban ngày. Khi những mối quan hệ này trở nên mất quân bình, sự sống còn của công ty đang trong tình trạng nguy hiểm. Khi mức lương quá cao và chất lượng sản phẩm là quá thấp, khách hàng không chọn mua sản phẩm, các nhà cung cấp mất đi người tiêu thụ, và chủ sở hữu bán cổ phiếu và trái phiếu của họ, từ đó giảm giá cổ phiếu và làm cho nó khó khăn để huy động thêm vốn ở mức giá thuận lợi. Tuy nhiên lý do đáng lưu ý là để trả lợi nhuận cho chủ sở hữu không phải là rằng họ “sở hữu” công ty, nhưng hỗ trợ của họ là cần thiết cho sự sống còn của công ty, và họ có quyền tuyên bố hợp pháp về doanh nghiệp này. Tương tự như lý do áp dụng lần lượt cho từng nhóm các đối tượng hữu quanLý thuyết về các đối tượng hữu quan được trình bày chi tiết lần đầu tiên bởi Freeman (1984), là một lý thuyết về quản lý tổ chức và đạo đức kinh doanh (Hiếu, 2011). Các đối tượng hữu quan trong lý thuyết này là những nhóm người có quyền lợi hay yêu cầu đối với doanh nghiệp. Cụ thể bao gồm nhà cung cấp, khách hàng, nhân viên, cổ đông, cộng đồng địa phương, và nhà quản lý trong vai trò là đại diện cho các nhóm này. Các doanh nghiệp có các đối tượng hữu quan, đó là, các nhóm và cá nhân được hưởng lợi hoặc bị tổn hại, có quyền lợi được tôn trọng hoặc bị vi phạm bởi những hành động của doanh nghiệp. Khái niệm các đối tượng hữu quan là sự tổng quát hóa khái niệm cổ đông (Freeman, 1984).

Freeman định nghĩa các đối tượng hữu quan theo hai hướng: “định nghĩa hẹp” bao gồm những nhóm người cần thiết cho sự tồn tại và thành công của doanh nghiệp, “định nghĩa rộng” bao gồm nhóm hoặc cá nhân bất kỳ có thể ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi doanh nghiệp. Freeman đã không đề cập đến “đối thủ cạnh tranh” như một đối tượng hữu quan theo nghĩa hẹp, vì họ không cần thiết cho sự tồn tại và thành công của DN. Tuy nhiên, các đối thủ cạnh tranh và chính phủ sẽ được kể đến

đầu tiên trong lý thuyết mở rộng. Sau thời gian này lý thuyết này lại ngày càng trở nên quan trọng hơn, với các công trình trọng điểm như Clarkson (1994, 1995), Donaldson và Preston (1995), Mitchel và các cộng sự (1997), Rowley (1997) và Froodman (1999) đã làm cho lý thuyết này ngày càng được phát triển cả về chiều sâu lẫn chiều rộng.

Tuy nhiên, sau đó theo Fassin (2008) cho rằng sự thành công của lý thuyết này là so việc đơn giản hóa mô hình cả trên lý thuyết quản trị và cả trong thực tế kinh doanh. Và nhiều năm sau đó lý thuyết này được phát triển và tạo nên các cuộc tranh luận học thuật trong nghiên cứu cũng như trong lý thuyết học thuật.

Đối với doanh nghiệp, thực hiện trách nhiệm xã hội góp phần quảng bá và phát triển thương hiệu cho doanh nghiệp bởi nó đảm bảo lợi ích của tất cả các bên: doanh nghiệp, người lao động, người tiêu dùng, cộng đồng và xã hội. Đảm bảo các quyền và lợi ích của người lao động, nó sẽ có tác dụng kích thích tính sáng tạo của người lao động, thúc đẩy việc cải tiến liên tục trong quản lý và trong việc nâng cao năng suất, chất lượng lao động, cải tiến mẫu mã hàng hóa, qua đó nâng cao hiệu quả công việc trong toàn doanh nghiệp. Khi thực hiện trách nhiệm xã hội, doanh nghiệp cũng sẽ vượt qua các rào cản kỹ thuật và rào cản thương mại do các đối tác dựng nên, đồng thời đáp ứng được nhu cầu của khach hàng khác về chất lượng, độ an toàn và tính năng sử dụng, sản phẩm của doanh nghiệp vì thế sẽ được tiêu thụ nhiều hơn. Điều đó giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong sự cạnh tranh gay gắt hiện nay.

Đối với người lao động, thực hiện trách nhiệm xã hội sẽ tạo cho họ phát triển toàn diện nhiều phương diện khác nhau. Họ sẽ được làm việc trong một môi trường mà ở đó pháp luật lao động được tuân thủ nghiêm ngặt, những quy định của pháp luật đối với quyền và lợi ích của người lao động sẽ được thực thi nghiêm túc, do đó tạo ra được động cơ làm việc tốt cho người lao động. Khi doanh nghiệp cam kết thực hiện tốt trách nhiệm xã hội, các vấn đề như lao động cưỡng bức, sử dụng lao động trẻ em, quấy nhiễu và lạm dụng lao động, phân biệt đối xử sẽ bị hạn chế và loại bỏ; vấn đề lương bổng sẽ được thực hiện tốt, vấn đề an toàn sức khỏe cho người lao động sẽ được doanh nghiệp quan tâm đầu tư. Qua đó, người lao động sẽ được làm việc trong những điều kiện đảm bảo sự phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần.

Đối với khách hàng, viêc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp giúp khách hàng thỏa mãn những yêu cầu mà họ đặt ra. Mong muốn của khách hàng rất đa dạng, họ muốn những sản phẩm có chất lượng cao, an toàn khi sử dụng. Khách hàng còn mong muốn doanh nghiệp thực hiện các vấn đề khác như được sống trong môi trường trong sạch, một xã hội mà các vấn đề xã hội được giải quyết ở mức độ tốt nhất. Mong muốn đó sẽ được đáp ứng khi doanh nghiệp thực hiện tốt các quy định về trách nhiệm xã hội.

Cộng đồng xã hội cũng sẽ được hưởng lợi từ việc doanh nghiệp thực hiện các quy định về trách nhiệm xã hội như ngăn ngừa ma túy, không sử dụng lao động trẻ em, không cưỡng bức lao động, tuân thủ pháp luật lao động,…Điều này tạo điều kiện cho việc thiết lập một môi trường sống mà trong đó, không tồn tại các tệ nạn xã hội, không có sự kỳ thị, đảm bảo công bằng và dân chủ, đảm bảo cho sự phát triển bền vững. Ngoài ra, việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp còn thông qua các hoạt động nhân đạo, từ thiện,… giúp cho những đối tượng khó khăn trong xã hội hòa nhập tốt với cộng đồng. Những đối tượng hữu quan của một doanh nghiệp là:

Cổ đông: Quan tâm tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, các chính sách chia lợi nhuận, các chiến lược, trong cả ngắn hạn và dài hạn. Cổ đông rất quan tâm tới hình ảnh và thương hiệu của doanh nghiệp và các mối quan hệ khác của doanh nghiệp, đặc biệt là mối quan hệ với cộng đồng và khách hàng.

Người lao động: Những người thực hiện, thi hành và tuân thủ các quy định, chính sách của những người quản lý. Người lao động làm việc cho doanh nghiệp và nhận được tiền công, họ quan tâm chủ yếu tới thu nhập, các chế độ thưởng phạt, môi trường làm việc, đào tạo.

Khách hàng: những tổ chức, các nhân sử dụng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. Khách hàng được chia ra làm khách hàng lẻ và khách hàng phân phối.

Nhà cung cấp: những tổ chức, các nhân cung cấp các nguyên liệu đầu vào cho doanh nghiệp.

Chính phủ: đưa ra những quy định buộc doanh nghiệp phải tuân theo.

Đối thủ cạnh tranh: bao gồm các doanh nghiệp đang kinh doanh trong cùng một ngành (đối thủ cạnh tranh trực tiếp) và các doanh nghiệp có ảnh hưởng tới ngành trong tương lai (đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn).

Các tổ chức tín dụng : Bất cứ doanh nghiệp nào hoạt động trên thị trường cũng cần có những mối quan hệ với các tổ chức tín dụng, các tổ chức này có thể là nhà tài trợ, nhà đầu tư hoặc là các chủ nợ của doanh nghiệp. Các tổ chức tín dụng luôn tồn tại song song với doanh nghiệp là các quỹ, các ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác.

Trong mối quan hệ này, các chủ nợ quan tâm tới lãi suất của khoản vay (lãi suất của đầu tư), khả năng thanh toán của doanh nghiệp, khả năng thu hồi vốn, tính xác thực trong tài chính… Các doanh nghiệp càng phát triển thì nhu cầu vốn là càng lớn.

Các tổ chức công: các hiệp hội, các tổ  chức chất  lượng,  bảo  vệ  người  tiêu  dùng, thương hiệu… là những tổ chức được xây dựng để bảo vệ mọi đối tượng trong xã hội bị xâm hại vào quyền lợi. doanh nghiệp luôn phải có sự điều chỉnh trong mối quan hệ, kết hợp với các hiệp hội, các tổ chức để gây áp lực với Chính phủ trong các chính sách, các quy định kinh doanh. Đặc biệt là hiệp hội ngành nghề là cơ quan bảo vệ cho doanh nghiệp trong cả thị trường trong nước và quốc tế, doanh nghiệp khi tham gia các tổ chức sẽ có điều kiện được hưởng các ưu đãi, sự hỗ trợ của Chính phủ, các doanh nghiệp khác trong quá trình sản xuất và kinh doanh.

Dựa trên lý thuyết của Freeman, Baron (1995) đã chia các đối tượng hữu quan thành hai nhóm, thị trường và phi thị trường. Các khách hàng, đối thủ cạnh tranh, nhân viên, đối tác và nhà cung cấp thường được xem là nhóm thị trường; các tổ chức phi chính phủ, chính phủ, cơ quan điều tiết, an toàn môi trường, các tổ chức tiêu chuẩn, phương tiện truyền thông, xã hội hoặc cộng đồng được xem như nhóm phi thị trường. Những ảnh hưởng của hai nhóm này có mức độ khác nhau về áp lực hoặc động cơ thúc đẩy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Từ quan điểm này, nhiều hoạt động đã được thực hiện bởi doanh nghiệp có liên quan đến những mong đợi của các đối tượng hữu quan (Hiếu, 2011). Các tổ chức có nghĩa vụ chăm sóc lợi ích của các đối tượng hữu quan của nó. Bởi vì các đối tượng hữu quan ảnh hưởng đến tổ chức, việc quản lý tốt các đối tượng hữu quan có thể dẫn đến thành công trên thị trường và tối đa hóa lợi nhuận (Berman et al, 1999).

Lý thuyết này thách thức quan điểm cho rằng các cổ đông có đặc quyền hơn các bên liên quan (Freeman và Reed, 1983). Về bản chất, lý thuyết các bên liên quan là một ngôn từ hùng biện đáp ứng các lý thuyết tài chính khẳng định rằng các doanh nghiệp chỉ nên tập trung vào việc tối đa hóa lợi ích kinh tế của các cổ đông, chủ sở  hữu của doanh nghiệp (Orts và Schulder, 2002). Các cổ đông đã được lập luận, đơn thuần là một trong số nhiều bên liên quan của doanh nghiệp (Heath và Norman, 2004) và doanh nghiệp cần phải cân bằng giữa các cổ đông với các bên liên quan khác (Ruf và cộng sự, 1998).

Tóm lại, theo Freeman (1984), các bên liên quan của công ty đó là các nhóm và cá nhân được hưởng lợi hoặc bị tổn hại, có quyền lợi bị vi phạm hoặc được tôn trọng từ hoạt động của công ty. Sau đây là các thành phần của các bên liên quan

Chủ sở hữu (Owners): là những người có cổ phần trong công ty dưới dạng cổ phiếu, trái phiếu và họ mong đợi lợi nhuận từ công ty.

Người lao động (Employees): là những người mà sinh kế của họ thường bị đe dọa, kỹ năng chuyên môn của họ thường không phù hợp với tất cả thị trường. Người lao động dùng sức của mình để đổi lại tiền lương, bảo hiểm, lợi ích và công việc có ý nghĩa.

Nhà cung cấp (Suppliers): là bên cung cấp nguyên liệu và sẽ xác định được chất lượng và giá cả của sản phẩm cuối cùng của công

Khách hàng (Customers): là những người sẽ dùng tiền để mua hàng hóa của công ty và nhận lại được những lợi ích của sản phẩm.

Cộng đồng địa phương (Local community): cung cấp cho công ty cơ sở hạ tầng, nguồn tiêu thụ, nguyên liệu…

Quản lý (Management): là những người có nhiệm vụ bảo vệ lợi ích của các chủ thể trừu tượng là tập đoàn và phải giữ cho mối quan hệ giữa các bên liên quan được cân bằng.

Đối với doanh nghiệp, thực hiện trách nhiệm xã hội sẽ góp phần quảng bá và phát triển thương hiệu cho doanh nghiệp bởi nó đảm bảo lợi ích của tất cả các bên: doanh nghiệp, người lao động, người tiêu dùng, cộng đồng và xã hội. Đảm bảo các quyền và lợi ích của người lao động, nó sẽ có tác dụng kích thích tính sáng tạo của người lao động, thúc đẩy việc cải tiến liên tục trong quản lý và trong việc nâng cao năng suất, chất lượng lao động, cải tiến mẫu mã hàng hóa, qua đó nâng cao hiệu quả công việc trong toàn doanh nghiệp (Bernam và cộng sự, 1999) . Khi thực hiện trách nhiệm xã hội, doanh nghiệp cũng sẽ vượt qua các rào cản kỹ thuật và rào cản thương mại do các đối tác dựng nên, đồng thời đáp ứng được nhu cầu của khách hàng khác về chất lượng, độ an toàn và tính năng sử dụng, sản phẩm của doanh nghiệp vì thế sẽ được tiêu thụ nhiều hơn. Điều đó giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong sự cạnh tranh gay gắt hiện nay.

Carroll (1991) cũng đã đưa ra khái niệm các bên liên quan nhằm xác định trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp hướng đến ai bằng cách phân định các nhóm hoặc những người cụ thể mà doanh nghiệp nên xem xét trong định hướng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp của nó. Dựa trên lý thuyết của Freeman (1991), tuy nhiên, Baron (2007) lại chia các bên liên quan thành hai nhóm, thị trường và phi thị trường. Các khách hàng, đối thủ cạnh tranh, nhân viên, đối tác và nhà cung cấp thường được xem là nhóm thị trường; các tổ chức phi chính phủ, chính phủ, cơ quan điều tiết, an toàn môi trường, các tổ chức xây dựng và ban hành tiêu chuẩn, phương tiện truyền thông, xã hội hoặc cộng đồng được xem như nhóm phi thị trường. Những ảnh hưởng của hai nhóm này có mức độ khác nhau về áp lực hoặc động cơ thúc đẩy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Từ quan điểm này, nhiều hoạt động đã được thực hiện bởi doanh nghiệp có liên quan đến những mong đợi của các bên liên quan (Hiếu, 2011). Các tổ chức có nghĩa vụ chăm sóc lợi ích của các bên liên quan của nó. Bởi vì các bên liên quan ảnh hưởng đến tổ chức, việc quản lý tốt các bên liên quan có thể dẫn đến thành công trên thị trường và tối đa hóa lợi nhuận (Berman và cộng sự , 1999).

Như vậy, việc đo lường việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp sẽ được đo lường thông qua các bên liên quan của Freeman (1991), các bên liên quan mà doanh nghiệp thực hiện các trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đó là: khách hàng, nhân viên, môi trường, nhà cung ứng và cộng đồng địa phương.