Khái niệm Chuyển giá trong các doanh nghiệp FDI

Chuyển giá được hiểu là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch  vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giới không theo giá thị trường nhằm tối thiểu hóa số thuế của các công ty đa quốc gia trên toàn cầu.
Như vậy, chuyển giá là một hành vi do các chủ thể kinh doanh thực hiện nhằm thay đổi giá trị trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong quan hệ với các bên liên kết.
Hành vi ấy có đối tượng tác động chính là giá cả. Sởdĩ giá cả có thể xác định lại trong những giao dịch như thế xuất phát từ ba lý do sau:
Thứ nhất, xuất phát từ quyền tự do định đoạt trong kinh doanh, các chủ thể  hoàn toàn có quyền quyết định giá cả của một giao dịch. Do đó họ hoàn toàn có  quyền mua hay bán hàng hóa, dịch vụ với giá họ mong muốn.

Thứ hai,xuất phát từ mối quan hệ gắn bó chung về lợi ích giữa nhóm liên kết  nên sự khác biệt về giá giao dịch được thực hiện giữa các chủ thể kinh doanh có  cùng lợi ích không làm thay đổi lợi ích toàn cục.

Thứ ba, việc quyết định chính sách giá giao dịch giữa các thành viên trong  nhóm liên kết không thay đổi tổng lợi ích chung nhưng có thể làm thay đổi tổng  nghĩa vụ thuế của họ. Thông qua việc định giá, nghĩa vụ thuế được chuyển từ nơi bị  điều tiết cao sang nơi bịđiều tiết thấp hơn và ngược lại. Tồn tại sự khác nhau về  chính sách thuế của các quốc gia là điều không tránh khỏi do chính sách kinh tế -xã  hội của họ không thể đồng nhất, cũng như sự hiện hữu của các quy định ưu đãi thuế  là điều tất yếu. Chênh lệch mứcđộ điều tiết thuế vì thế hoàn toàn có thể xảy ra.

Vìvậy, chuyển giá chỉ có ý nghĩa đối với các giao dịch được thực hiện giữa  các chủ thể có mối quan hệ liên kết. Để làm điều này họ phải thiết lập một chính  sách về giá mà ở đó giá chuyển giao có thể được định ở mức cao hay thấp tùy vào  lợi ích đạt được từ những giao dịch như thế. Chúng ta cần phân biệt điều này với  trường hợp khai giá giao dịch thấp đối với cơ quan quản lý để trốn thuế nhưng đằng  sau đó họ vẫn thực hiện thanh toán đầy đủ theo giá thỏa thuận. Trong khi đó nếu  giao dịch bị chuyển giá, họ sẽ không phải thực hiện vế sau của việc thanh toán trên  và thậm chí họ có thể định giá giao dịch cao. Các đối tượng này nắm bắt và vận  dụng được những quy định khác biệt về thuế giữa các quốc gia, các ưu đãi trong  quy định thuế để hưởng lợi có vẻ như hoàn toàn hợp pháp. Như thế, vô hình chung,  chuyển giá đã gây ra sự bất bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế do xác  định không chính xác nghĩa vụ thuế, dẫn đến bất bình đẳng về lợi ích, tạo ra sự cách  biệt trong ưu thế cạnh tranh

Tuy vậy, thật không đơn giản để xác định một chủ thể đã thực hiện chuyển  giá. Vấn đề ở chỗ, nếu định giá cao hoặc thấp mà làm tăng số thu thuế một cách cục  bộ  cho  một  nhà  nước  thì  cơ  quan  có  thẩm  quyền  nên  định  lại  giá  chuyển  giao.  Chẳng hạn, giá mua đầu vào nếu được xác định thấp, điều đó có thể hình thành chi  phí thấp và hệ quả là thu nhập trước thuế sẽ cao, kéo theo thuế TNDN tăng; hoặc  giả như giá xuất khẩu định cao cũng làm doanh thu tăng và kết quả là cũng làm tăng  số thuế mànhà nước thu được. Nhưng cần hiểu rằng điều đó cũng có nghĩa rằng  nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp liên kết ở đầu kia có khả năng đã giảm xuống do  chuyển một phần nghĩa vụ của mình qua giá sang doanh nghiệp liên kết này.

Hành vi này chỉ có thể được thực hiện thông qua giao dịch của các chủ thể có  quan hệ liên kết. Biểu hiện cụ thể của hành vi là giao kết về giá. Nhưng giao kết về  giá chưa đủ để kết luận rằng chủ thể đã thực hiện hành vi chuyển giá. Bởi lẽ nếu  giao kết đó chưa thực hiện trên thực tế hoặc chưacó sự chuyển dịch quyền đối với  đối tượng giao dịch thì không có cơ sở để xác định sự chuyển dịch về mặt lợi ích.  Như vậy, ta có thể xem chuyển giá hoàn thành khi có sự chuyển giao đối tượng giao  dịch cho dù đã hoàn thành nghĩa vụ thanh toán hay chưa.