Khái niệm, đặc điểm của hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

 1. Khái niệm hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

Trong kinh tế học, hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh (Cartel) được nhìn nhận là sự thống nhất hành động của nhiều doanh nghiệp nhằm giảm bớt hoặc loại bỏ sức ép của cạnh tranh hoặc hạn chế khả năng hành động một cách độc lập giữa các đối thủ cạnh tranh. Từ điển Chính sách thương mại quốc tế định nghĩa Cartel là một thỏa thuận chính thức hoặc không chính thức để đạt được kết quả có lợi cho các hàng có liên quan, nhưng có thể có hại cho các bên khác9Kh  Walter Goode, sđd, tr 47.).

Khoản 1 Điều 81 Hiệp ước Rome nghiêm cấm mọi thỏa thuận giữa các doanh nghiệp, mọi quyết định của hiệp hội doanh nghiệp và mọi hành động phối hợp có khả năng ảnh hưởng đến trao đổi thương mại giữa các quốc gia thành viên và có mục đích hoặc hệ quả phản cạnh tranh. Luật Cạnh tranh Việt Nam không đưa ra khái niệm mà sử dụng phương pháp liệt kê các thỏa thuận bị coi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bao gồm: thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ; thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán, hàng hóa, dịch vụ; thỏa thuận hạn chế phát triểnkỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; thỏa thuận áp đặt cho các doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng; thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh; thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận; thông đồng để một hoặc các bên của thỏa thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ(Điều 8 Luật Cạnh tranh.). Việc không đưa ra khái niệm mà chỉ liệt kê các thỏa thuận cụ thể đã không gây nên những tranh luận cần thiết về hình thức và bản chất pháp lý của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Theo đó, chỉ những thỏa thuận được liệt kê tại Điều 8 Luật Cạnh tranh mới bị coi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.

Trên thực tế, thoả thuận giữa các doanh nghiệp diễn ra ở nhiều công đoạn khác nhau của quá trình sản xuất, phân phối. Do đó, có nhiều dạng biểu hiện khác nhau của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh: thỏa thuận giữa những người bán với nhau (ví dụ như thỏa thuận ấn định giá, thỏa thuận phân chia thị trường…); thỏa thuận giữa những người mua; thỏa thuận trong đấu thầu.

Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có thể diễn ra giữa các doanh nghiệp thuộc những khâu khác nhau của quá trình kinh doanh;

–                      Thỏa thuận theo chiều ngang là những thỏa thuận giữa các chủ thể kinh doanh trong cùng ngành hàng và cùng khâu của quá trình kinh doanh (ví dụ giữa những người bán buôn với nhau, giữa những người bán lẻ với nhau);

–                      Thỏa thuận theo chiều dọc là thỏa thuận giữa những doanh nghiệp ở các công đoạn sản xuất khác nhau.

 2 . Những đặc trưng của các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

Trong thực tế thị trường nội dung các hành vi thỏa thuận cũng rất đa dạng, không thể dự liệu một cách tuyệt đối, đều mang tính tương đối và luôn được bổ sung cùng với sự sáng tạo của người kinh doanh. Các thỏa thuận có thể hướng đến sự thống nhất về giá cả của hàng hoá, dịch vụ; có thể là sự thống nhất trong việc phân chia thị trường, phân chia khách hàng; trong chiến lược marketing; thống nhất trong hành động để tiêu diệt đối thủ hoặc phát triển khoa học kỹ thuật.v.v.

Như vậy, dựa vào khái niệm mà kinh tế học đưa ra và những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được quy định trong Luật Cạnh tranh, có thể nhìn nhận và phân tích chúng bằng 3  dấu hiệu sau đây :

 a. Về chủ thể, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh diễn ra giữa các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh của nhau

Để xác định dấu hiệu này, phải chứng minh được những điểm sau đây:

–  Các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận cùng trên thị trường liên quan;

–  Các doanh nghiệp phải hoạt động độc lập với nhau, không phải là những người liên quan của nhau theo pháp luật doanh nghiệp; không cùng trong một tập đoàn kinh doanh, không cùng là thành viên của tổng công ty. Những hành động thống nhất của tổng công ty, của một tập đoàn kinh tế hoặc của các công ty mẹ, con, không được pháp luật cạnh tranh coi là thỏa thuận bởi thực chất các tập đoàn kinh tế nói trên cho dù bao gồm nhiều thành viên cũng chỉ là một chủ thể thống nhất.

 b. Hình thức của thỏa thuận là sự thống nhất cùng hành động giữa các doanh nghiệp có thể công khai hoặc không công khai

Để xác định các hành động của một nhóm doanh nghiệp độc lập là thỏa thuận, cơ quan có thẩm quyền phải có đủ bằng chứng kết luận rằng giữa họ đã tồn tại một hợp đồng, bản ghi nhớ, các cuộc gặp mặt cho thấy đã có một thoả thuận công khai hoặc ngầm đồng ý về giá, về hạn chế sản lượng, phân chia thị trường. Một khi chưa có sự thống nhất cùng hành động giữa các doanh nghiệp tham gia thì chưa thể kết luận có sự tồn tại của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.

Một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh phải được hình thành từ sự thống nhất ý chí của các doanh nghiệp tham gia về việc thực hiện một hành vi hạn chế cạnh tranh. Hình thức pháp lý của sự thống nhất ý chí không ảnh hưởng đến việc định danh thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Do đó, chỉ cần hội đủ hai điều kiện là có sự thống nhất ý chí và các doanh nghiệp đã cùng thống nhất thực hiện một hành vi hạn chế cạnh tranh là có thể kết luận đã có thỏa thuận hạn chế cạnh tranh cho dù thỏa thuận đó bằng băn bản hay lời nói, thỏa thuận công khai hay thỏa thuận ngầm. Một thỏa thuận thậm chí không cần phải có hình thức pháp lý, ví dụ trong trường hợp các doanh nghiệp thỏa thuận ngầm hoặc cùng hành động phối hợp đã không tồn tại hình thức pháp lý nào. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bao gồm cả các quyết định tập thể của các doanh nghiệp nên các quyết định của Hiệp hội ngành nghề, của các tổ chức nghề nghiệp để các tổ chức, cá nhân kinh doanh là thành viên thực hiện các hành vi hạn chế cạnh tranh cũng là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.

Cần phân biệt sự thống nhất ý chí và thống nhất về mục đích. Việc xác định một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, chỉ cần chứng minh rằng các doanh nghiệp tham gia đã có sự thống nhất ý chí mà không nhất thiết cần phải có cùng mục đích. Khi thống nhất thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh, các doanh nghiệp có thể cùng hoặc không cùng theo đuổi một mục đích. Các doanh nghiệp có thể có những mục đích khác nhau khi cùng thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh nào đó. Vì vậy, nếu dùng mục đích để chứng minh về thỏa thuận có thể làm giảm khả năng điều chỉnh của pháp luật. Với nhiệm vụ bảo vệ cạnh tranh, pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh chỉ cấm đoán các thỏa thuận gây ra hoặc có khả năng gây ra hậu quả phản cạnh tranh trên thị trường. Do đó, nếu có sự thống nhất ý chí và sự thống nhất ý chí đó gây ra hậu quả phản cạnh tranh là có thể xử lý những người tham gia thỏa thuận cho dù mục đích tham gia của họ khác nhau.

Trong việc định danh một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, cơ quan có thẩm quyền không chỉ kiểm tra có sự tồn tại thực sự của một thỏa thuận hay sự thống nhất ý chí, mà còn phải khẳng định được rằng thỏa thuận đó chắc chắn xuất phát từ ý chí độc lập của các bên và không chịu sự ràng buộc từ bên ngoài. Việc tồn tại các yếu tố khách quan hoặc chủ quan làm cho các doanh nghiệp không còn độc lập về ý chí cho dù đã hoặc đang cùng thực hiện một hành vi phản cạnh tranh cũng không tạo nên một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Trong trường hợp này, pháp luật cạnh tranh đã sử dụng khái niệm khiếm khuyết của sự thỏa thuận ý chí trong pháp luật hợp đồng để kết luận về sự tồn tại của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Thông thường, các doanh nghiệp không độc lập về ý chí nếu thuộc một trong những trường hợp: các bên đang chịu sự ràng buộc của một văn bản luật, dưới luật nên đã thực hiện hành vi gây ra hậu quả làm hạn chế cạnh tranh, ví dụ: có quyết định của Chính phủ buộc các doanh nghiệp kinh doanh phân bón phải giảm giá bán nhằm ổn định thị trường. Trong trường hợp này, cho dù mức giá bán được đặt ra đã tạo nên rào cản cho việc gia nhập thị trường của các doanh nghiệp tiềm năng thì các doanh nghiệp tham gia vào việc ấn định giá không vi phạm Luật Cạnh tranh; các doanh nghiệp trong cùng một tập đoàn hoặc có quan hệ kiểm soát lẫn nhau. quan hệ trong nội bộ tập đoàn hoặc quyền kiểm soát của một doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp khác có thể làm cho các doanh nghiệp thành viên hoặc các doanh nghiệp bị kiểm soát không thực sự độc lập về ý chí khi thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh. Vì thế, pháp luật cạnh tranh của các nước đều ghi nhận nguyên tắc “không thể có thỏa thuận phản cạnh tranh giữa hai doanh nghiệp trong đó doanh nghiệp này kiểm soát doanh nghiệp kia hoặc giữa những doanh nghiệp cùng đặt dưới sự kiểm soát chung của một doanh nghiệp thứ ba, hoặc giữa các doanh nghiệp hợp thành một thực thể kinh tế”(Dominique Brault, sđd, tr 152.). Tuy nhiên, nguyên tắc này không được áp dụng một cách cứng nhắc mà cần có những phân tích và đánh giá thực tế trong từng vụ việc cụ thể. Theo đó, trong những trường hợp trên, cơ quan có thẩm quyền cần đánh giá tác động của các yếu tố tác động đến ý chí của các doanh nghiệp. Nếu các doanh nghiệp tham gia không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh thì kết luận là họ không độc lập về ý chí. Ngược lại, nếu có một văn bản luật hoặc dưới luật hoặc quan hệ kiểm soát, quan hệ tập đoàn đã buộc các doanh nghiệp phải thực hiện một hành vi gây ra hậu quả hạn chế cạnh tranh thì hành vi tập thể của các doanh nghiệp đó không cấu thành nên thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.

Cơ quan có thẩm quyền dễ dàng tìm ra được những bằng chứng về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đối với các thỏa thuận công khai, song  tìm kiếm bằng chứng không đơn giản đối với các thỏa thuận ngầm. Trong thực tế, để đối phó với pháp luật cạnh tranh, các doanh nghiệp thường ngầm thiếp lập nên các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hoặc tẩu tán bằng chứng về thỏa thuận. Dấu hiệu đầu tiên đặt ra nghi vấn về các thỏa thuận ngầm là các doanh nghiệp đã có sự phối hợp cùng thực hiện một hành vi hạn chế cạnh tranh (hành động song song). Tuy nhiên, để kết luận hành động phối hợp là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh còn cần thêm những bằng chứng về sự thống nhất ý chí.

 c. Nội dung của các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thường tập trung vào các yếu tố cơ bản của quan hệ thị trường mà các doanh nghiệp đang cạnh tranh nhau như giá, thị trường, trình độ kỹ thuật, công nghệ, điều kiện ký kết hợp đồng và nội dung của hợp đồng.

Khi những nội dung của thỏa thuận được hình thành và thực hiện, thì các yếu tố nói trên sẽ trở thành tiêu chuẩn thống nhất không có cạnh tranh trên thị trường giữa những người tham gia thoả thuận. Nói cách khác, nội dung của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là các doanh nghiệp thống nhất thực hiện cùng một hành vi hạn chế cạnh tranh. Dựa vào hành vi, Điều 8 Luật Cạnh tranh đã liệt kê thành những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh cụ thể. Chỉ khi thuộc một trong những trường hợp quy định tại Điều 8, thỏa thuận của các doanh nghiệp mới bị coi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có thể được xác định khi chúng đã hoặc chưa được thực hiện. Nói cách khác, việc các doanh nghiệp tham gia đã thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh đã thỏa thuận hay chưa không quan trọng trong việc định danh thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Có những trường hợp cơ quan có thẩm quyền phát hiện ra thỏa thuận sau khi các doanh nghiệp thực hiện hành vi và gây hậu quả cho thị trường, song cũng có trường hợp các doanh nghiệp chỉ vừa thống nhất sẽ thực hiện một hành vi hạn chế cạnh tranh và bị phát hiện. Tất cả những trường hợp trên đều cấu thành nên thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Như vậy, chỉ cần có đủ hai điều kiện sau đây:

 Thứ nhất, có bằng chứng về sự thống nhất ý chí giữa các doanh nghiệp;

Thứ hai, các doanh nghiệp thỏa thuận cùng nhau thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh là có thể kết luận về sự tồn tại của một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.

d. Hậu quả của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, dấu hiệu chung cho cả ba loại hành vi hạn chế cạnh tranh, là làm giảm, sai lệch và cản trở cạnh tranh trên thị trường

Sự thống nhất ý chí đã liên kết các doanh nghiệp độc lập với nhau nhằm tạo nên sức mạnh chung trong quan hệ với khách hàng hoặc trong quan hệ cạnh tranh với những doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận. Thế nên hậu qủa đầu của thỏa thuận gây ra cho thị trường là xoá bỏ cạnh tranh giữa những doanh nghiệp tham gia. Khi nội dung thỏa thuận được hình thành, tạo ra những tiêu chuẩn chung về giá, về kỹ thuật, về công nghệ, về điều kiện giao kết hợp đồng… các doanh nghiệp đang từ đối thủ cạnh tranh của nhau sẽ không còn cạnh tranh với nhau nữa. Bằng sức mạnh chung (nếu sự liên kết tạo nên sức mạnh thị trường) và bằng việc thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh, các doanh nghiệp tham gia có thể gây thiệt hại cho khách hàng khi đặt ra các điều kiện giao dịch bất lợi cho họ hoặc gây thiệt hại cho các doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận.


Các từ khóa trọng tâm hoặc các thuật ngữ liên quan đến bài viết trên:
  • thoa thuan han che canh tranh
  • phan tich hau qua cua thoa thuan hanche
  • ,