Khái niệm, đặc điểm thuế Giá trị gia tăng

Trước khi thuế GTGT ra đời, một số quốc gia áp dụng thuế doanh thu. Đây là một lọai thuế bị thu trùng ở nhiều giai đọan khác nhau từ sản xuất đến tiêu dùng. Ví dụ như một xưởng cưa sau khi xả cây và bán gỗ cho thợ mộc với giá 1.000.000 đồng với thuế suất 10%. Số thuế phải nộp cho nhà nước là 100.000 đồng. Tổng cộng số tiền người thợ mộc phải trả cho xưởng cưa là 1.100.000 đồng. Từ khúc gỗ đó, người thợ mộc làm chiếc bàn và bán cho người bán lẻ với giá 5.100.000 đồng, thuế suất là 10% thì người bán lẻ phải nộp thuế

510.000 đồng. Giá bán cái bàn lúc này là 5.560.000 đồng. Người bán lẻ bán cho người tiêu dùng với giá là 10.000.000 với thuế suất là 10% thì giá của chiếc bàn sẽ là 11.000.000 đồng. Như vậy, trong ví dụ này nhà nước đã thu được thuế 1.610.000 đồng. Nếu ta so sánh thì thấy rằng từ giai đọan đầu tiên, giá trị của hàng hóa (khúc gỗ) đã được tăng lên được 10 lần. Tuy nhiên, số thuế mà nhà nước nhận được đã tăng lên 16,1 lần mặc dù thuế suất ở các giai đọan như nhau. Việc tăng số tiền thuế nộp cho nhà nước là do thuế đã thu chồng lên thuế ở mỗi giai đọan sản xuất, lưu thông.

Điều này dẫn đến việc để tránh thuế, người sản xuất tìm cách kết hợp các giai đọan sản xuất, lưu thông lại với nhau. Ở ví dụ trên, giả định là người thợ mộc sở hữu luôn xưởng cưa và sau khi đóng xong chiếc bàn thì bán trực tiếp cho khách hàng với giá 10.000.000 đồng. Với thuế suất là 10%, nhà nước thu được 1.000.000 đồng tiền thuế.

Các học giả đã phát hiện ra điểm tiêu cực của cách đánh thuế này là làm cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất không có khả năng kết hợp và thực hiện nhiều giai đoạn của quá trình sản xuất, lưu thông gặp khó khăn vì họ phải chịu thuế nhiều hơn do bị thuế chồng thuế. Việc kết hợp nhiều giai đọan sản xuất lưu thông lại với nhau cũng dẫn đến việc thay đổi kết cấu nền kinh tế. Người tiêu dùng cũng sẽ bị thiệt thòi vì người sản xuất, người lưu thông hàng hóa sẽ tìm cách chuyển gánh nặng về thuế của họ cho người tiêu dùng làm giá cả tăng cao. Vì vậy mà các học giả như  Dr. Wilhelm von Siemens (Đức), Thomas S. Adams (Mỹ), vv… đề xuất phương án đánh thuế lên giá trị tăng thêm của hàng hóa từ những năm 192046. Những ý tưởng này đã đặt nền móng cho việc xây dựng hệ thống thuế bán lẻ và thuế giá trị gia tăng sau này. Trong đó, thuế giá trị gia tăng (GTGT) là lọai thuế đánh vào giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ nhằm động viên một phần thu nhập của người dân vào ngân sách nhà nước.

Thuế GTGT là một lọai thuế đánh lên hành vi tiêu dùng nhưng suy cho cùng thì mục đích của lọai thuế này cũng nhằm vào thu nhập của người dân. Xem xét hành vi tiêu dùng cùng với thu nhập và tài sản có thể giúp để phân định được ai là người giàu, người nghèo trong xã hội. Đánh thuế lên cả ba lĩnh vực này sẽ giúp cho nhà nước thu được ngân sách đồng thời điều tiết được thu nhập từ người giàu sang người nghèo.

Thuế GTGT được áp dụng chính thức tại Pháp năm 1954. Hiện tại có 120 quốc gia và vùng lãnh thổ áp dụng thuế này47. Ở Việt Nam, Luật thuế GTGT được ban hành vào năm 1997 và có hiệu lực từ 1/1/1999. Luật này đã được sửa đổi bổ sung năm 2003 và năm 2005 nhằm đảm bảo các cam kết của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới và nhằm hòan thiện hơn hệ thống thuế GTGT ở Việt Nam.

Thuế GTGT có những đặc điểm sau48:

–   Thuế giá trị gia tăng có đối tượng chịu thuế rất rộng. Theo đó, mọi đối tượng tồn tại trong xã hội, cho dù là tổ chức hay cá nhân, là người nghèo hay người giàu đều phải chi trả thu nhập của mình để thụ hưởng kết quả sản xuất kinh doanh tạo ra cho nền kinh tế xã hội. Vì vậy mà việc xác định đối tượng chịu thuế, thuế suất luôn là vấn đề cần được quan tâm khi xây dựng luật thuế GTGT nhằm thực hiện công bằng xã hội, hướng dẫn tiêu dùng và khuyến khích sản xuất phát triển.

–   Thuế GTGT chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ. Việc chỉ đánh thuế trên phần giá trị tăng thêm nhằm làm giảm bớt gánh nặng về thuế đối với người sản xuất, người cung cấp, người lưu thông và người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ. Vì vậy mà việc xác định chính xác GTGT là rất quan trọng và trong thực tế là rất khó khăn.

–   Nếu dựa trên giá mua cuối cùng của hàng hóa, dịch vụ, số thuế phải nộp không thay đổi phụ thuộc vào các giai đọan lưu thông khác nhau. Đánh thuế ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa, nhập khẩu hàng hóa dịch vụ nhưng chỉ đánh trên giá trị tăng thêm của khâu sau so với khâu trước. Tổng số thuế nộp ở các khâu chính là số thuế cuối cùng tính trên tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng phải gánh chịu. Và vì người tiêu dùng là người chịu gánh nặng về thuế nên cũng giảm tình trạng trốn thuế, tránh thuế.

46 Alan Schenk và Oliver Oldman, Value Added Tax: A Comparative Approach, with Materials and Cases, Transnational Publisher, New York 2001, tr. 5


Các từ khóa trọng tâm hoặc các thuật ngữ liên quan đến bài viết trên:
  • khái niệm thuế giá trị gia tăng
  • đặc điểm của thuế giá trị gia tăng
  • ,