Khái niệm, đặc điểm tổ chức tín dụng

 

Tổ chức tín dụng (TCTD) là một doanh nghiệp được thành lập theo Luật Các Tổ chức tín dụng và các qui định khác của pháp luật để thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên nhận tiền gửi, sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.[1]

Như vậy, định nghĩa về tổ chức tín dụng bao gồm các dấu hiệu đặc trưng:

+ Thứ nhất, tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật Các Tổ chức tín dụng và những quy định khác của pháp luật.

+ Thứ hai, nội dung hoạt động của doanh nghiệp là kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng mà cụ thể là thực hiện hoạt động huy động vốn, sử dụng vốn, cấp tín dụng và thực hiện hoạt động thanh toán
Căn cứ vào định nghĩa, những đặc điểm cơ bản của một tổ chức tín dụng bao gồm:
-Tổ chức tín dụng là một doanh nghiệp: Tổ chức tín dụng hội đủ các điều kiện của một doanh nghiệp (có tài sản, tên riêng, trụ sở giao dịch, đăng ký kinh doanh…)
-Tổ chức tín dụng là  một pháp nhân: Tổ chức tín dụng hội đủ các dấu hiệu của một pháp nhân theo qui định tại điều 94 Bộ luật Dân sự Việt Nam như: được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập; có cơ cấu chặc chẽ; có tài sản độc lập; nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách  độc lập). Ngoài ra, nếu căn cứ Điều 12 Luật Các Tổ chức tín dụng, các tổ chức tín dụng  chỉ được thành lập và hoạt động  dưới các hình thức pháp lý: Tổ chức tín dụng cổ phần, Tổ chức tín dụng nhà nước, Tổ chức tín dụng hợp tác, Tổ chức tín dụng có vốn đầu tư nước ngoài. Theoluật doanh nghiệp các loại hình trên đều có tư cách pháp nhân, do vậy, có thể khẳng định Tổ chức tín dụng là một pháp nhân.

-Đây là loại hình doanh nghiệp đặc biệt, vừa phải được thành lập và hoạt động tuân theo Luật các Tổ chức tín dụng, mặt khác, tùy thuộc vào các loại hình Tổ chức tín dụng  khác nhau mà Tổ chức tín dụng còn phải tuân theo những quy định pháp luật khác có liên quan như Luật doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã, Luật Đầu tư…Nhìn chung, qui phạm pháp luật về các tổ chức tín dụng có thể tạm chia làm hai nhóm: nhóm pháp luật chuyên ngành và pháp luật chung.

– Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ và cung ứng các dịch vụ ngân hàng. Có  thể khẳng định, đối tượng kinh doanh trực tiếp của các Tổ chức tín dụng chính là tiền tệ. Bởi vì, hoạt động kinh doanh chính, chủ yếu, thường xuyên và mang tính chất nghề nghiệp, mang lại thu nhập chính cho tổ chức tín dụng là hoạt động ngân hàng. Các tổ chức tín dụng hoạt động kinh doanh chủ yếu theo phương thức nhận tiền gửi, sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cho vay lại, cung cấp các dịch vụ thanh toán. Điều này được pháp luật ngân hàng quy định rõ: “hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ  và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.[2] Đây là dấu hiệu cơ bản để phân biệt doanh nghiệp là TCTD với các loại hình doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực.
– Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp chịu sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam : Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam qui định: “Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng…”[3]. Đồng thời, luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam còn nêu rõ một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của các tổ chức tín dụng, trừ trường hợp do Thủ tướng chính phủ quyết định[4]. Ngoài ra, pháp luật ngân hàng cũng ghi nhận việc cấp, thu hồi giấy phép hoạt động ngân hàng các tổ chức khác cũng thuộc thẩm quyền của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Điều 14 Luật các tổ chức tín dụng qui định: “Mọi  tổ chức có đủ điều kiện qui định theo Luật các tổ chức tín dụng và các qui định khác của pháp luật, được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp giấy phép hoạt động thì được thực hiện một  phần hoặc toàn bộ hoạt động ngân hàng tại VN.


[1] Khoản 1 điều 20 Luật Các Tổ chức tín dụng 1997 (sửa đổi bổ sung 2004).

[2] Khoản 3 điều 9 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và khoản 7 điều 20 Luật Các Tổ chức tín dụng.

[3] Xem Điều 1 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

[4] Điều 5 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam