Khái niệm di chuyển lao động

Để hiểu nội hàm của di chuyển lao động, cần phân biệt hình thức di chuyển lao động (labour migration) với các hình thức di chuyển khác. Di chuyển lao động thường được hiểu là sự di chuyển người từ quốc gia này sang quốc gia khác, hoặc trong phạm vi quốc gia cư trú của họ, với mục đích làm việc

Ngoài khái niệm về di chuyển lao động, chúng ta còn có khái niệm di cư kinh tế. Vậy di chuyển lao động và di cư kinh tế có trùng khít với nhau hay không? Trong bối cảnh di cư quốc tế, khái niệm người di cư kinh tế dùng để chỉ một người rời nơi cư trú thường xuyên đến định cư ở một nơi khác nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống. Thuật ngữ này có thể được sử dụng một cách lỏng lẻo để phân biệt với những người tị nạn chạy trốn khỏi sự bức hại, và cũng có thể dùng để chỉ những người tìm cách nhập cảnh vào một nước mà không được phép và/hoặc sử dụng các thủ tục tị nạn mà không có lý do trung thực, khái niệm này cũng áp dụng cho những người rời bỏ nước gốc của họ với mục đích tìm việc làm” [48, tr.35], nghĩa là di cư kinh tế bao gồm cả di chuyển lao động.

Theo khoản 1, Điều 2, Công ước quốc tế năm 1990 về bảo vệ quyền của người lao động di cư và thành viên gia đình họ thì người lao động di cư quốc tế là “một người đã, đang và sẽ tham gia một hoạt động được trả công tại một quốc gia mà người đó không phải là công dân” [48, tr.73]. Khái niệm này về người lao động di cư quốc tế đã không kể đến những người lao động di cư tự tạo việc làm, những thể nhân cung cấp dịch vụ. Trong khi đó các hiệp định về di chuyển lao động trong khuôn khổ hợp tác song phương, đa phương giữa các quốc gia và khu vực hiện nay hầu hết đều quy định hình thức di chuyển của người lao động theo phương thức di chuyển tạm thời của những người cung cấp dịch vụ. Những người này mặc dù được đánh giá là hoạt động của họ không trực tiếp làm ảnh hưởng đến cơ hội việc làm của lao động trong nước, hình thức di cư của họ cũng khác so với di cư theo phương thức xuất khẩu lao động; nhưng sự di chuyển này vẫn là sự rời bỏ nơi định cư gốc để làm việc ở một quốc gia khác, do đó vẫn là một hình thức của di cư kinh tế, di cư lao động. Vì vậy, trong khuôn khổ luận án này, tác giả hiểu Di chuyển lao động quốc tế là sự di chuyển người từ quốc gia này sang quốc gia khác để làm việc.

Phân loại cách thức di chuyển lao động

Có nhiều cách để phân loại di chuyển lao động, tuỳ từng tiêu chí cụ thể, có thể phân loại di chuyển lao động quốc tế theo những tiêu thức sau:

Căn cứ theo thời gian: di chuyển lao động gồm di chuyển lao động ngắn hạn/di chuyển lao động tạm thời, di chuyển lao động dài hạn. Theo Công ước quốc tế năm 1 0 về bảo vệ các quyền của người lao động di cư và thành viên gia đình họ, người di cư dài hạn là người chuyển tới một nước không phải nước cư trú thường xuyên của họ trong khoảng thời gian ít nhất một năm. Tuy nhiên, Hiệp định chung về thương mại và dịch vụ GATS có nhắc đến việc di chuyển tạm thời của các tự nhiên nhân, nhưng hiệp định này đã không chỉ ra một ranh giới r ràng để loại trừ vấn đề di cư vĩnh viễn. Do đó, di cư trong khoảng thời gian bao lâu thì được coi là tạm thời lại không được định rõ, vì vậy “mỗi nước lại có quy định riêng về vấn đề này. Ví dụ Nhật Bản cho phép doanh nhân nước ngoài được lưu trú tối đa là 0 ngày, nhưng một số loại nhân viên luân chuyển trong nội bộ tập đoàn lại có thể ở đến 5 năm” [2, tr.5]. Những người lao động di cư ngắn hạn/di cư tạm thời vẫn thường được xác định với khoảng thời gian định cư ở nơi mới trong khoảng thời gian dưới một năm và những người này không có ý định định cư lâu dài. Di cư ngắn hạn/di cư tạm thời bao gồm những người lao động di cư mùa vụ và lao động di cư theo kiểu con lắc. Theo Điều 2 của Công ước quốc tế năm 1990 về bảo vệ các  quyền của người lao động di cư và thành viên gia đình họ thì “lao động di cư mùa vụ là khái niệm để chỉ một người lao động di cư, hoặc hoạt động di cư việc làm, mà đặc điểm công việc của họ phụ thuộc vào điều kiện mùa vụ và chỉ được thực hiện trong một phần của năm”.

Căn cứ vào điều kiện dịch chuyển: dựa vào điều kiện pháp lý của sự dịch chuyển, các nhà quản lý phân biệt hai loại di chuyển lao động là di chuyển lao động hợp pháp và di chuyển lao động bất hợp pháp/di chuyển lao động lén lút/di chuyển lao động không đủ giấy tờ. Người di cư trái phép (irregular migarant) là người nhập cảnh bất hợp pháp, vi phạm một điều kiện nhập cảnh hoặc hết hạn thị thực, không có quy chế hợp pháp ở nước quá cảnh hoặc nước chủ nhà. Định nghĩa này bao gồm cả những người nhập cảnh hợp pháp vào một quốc gia quá cảnh hay nước chủ nhà nhưng ở lại quá thời hạn cho phép hoặc làm việc không được phép (còn gọi là người di cư lén lút/di cư không đủ giấy tờ hoặc người di cư trong tình trạng trái phép). “Thuật ngữ trái phép được sử dụng nhiều hơn là bất hợp pháp vì bất hợp pháp mang một ý nghĩa phạm tội và được xem như bác bỏ quyền của người di cư” [48, 108].

Như vậy, lao động bất hợp pháp/lao động trái phép bao gồm nhiều loại như: lao động không có giấy phép xuất cư, lao động có giấy phép xuất cư nhưng không có giấy phép đi làm việc ở nước ngoài, lao động ở lại sau khi hết hạn thị thực, lao động phá hợp đồng, bỏ trốn khỏi nơi làm việc lao động di cư qua các kênh không chính thức.

Căn cứ vào trình độ, kỹ năng của người lao động: phân loại lao động di cư dựa vào trình độ học vấn, trình độ chuyên môn thì di chuyển lao động gồm di chuyển lao động có chuyên môn và di chuyển lao động chuyên môn thấp, lao động bán lành nghề, lao động phổ thông. Hiện nay, chưa có một định nghĩa chung được chấp nhận quốc tế về người lao động di cư chuyên môn thấp và bán lành nghề (less/low skilled and semi-skilled worker). Trong những thuật ngữ rộng hơn, người lao động bán lành nghề là người đáp ứng một mức độ đào tạo hoặc làm quen với công việc trước khi thao tác khả năng tối đa/tốt nhất, mặc dù việc đào tạo chưa đủ dài hoặc đủ chuyên sâu, yêu cầu cho thứ bậc như một lao động lành nghề được đo bằng tuần hay ngày thay cho bằng năm, hoặc chỉ ở mức độ thứ ba (lao động trong lĩnh vực sản xuất, xây dựng) có thể được xếp loại bán lành nghề. Bên cạnh đó, “một người lao động tay nghề thấp hay lao động chân tay/lao động phổ thông được xem là một người ít được đào tạo hơn người lao động bán lành nghề, hoặc không được đào tạo, nhưng vẫn có được năng lực trong công việc”.

Căn cứ vào phương thức di chuyển: hiện có các hình thức di chuyển lao động quốc tế phổ biến là lao động xuất khẩu và di chuyển thể nhân nhằm cung cấp dịch vụ.

Xuất khẩu lao động là “sự di chuyển trên thị trường lao động theo thỏa thuận về lao động nhằm mục đích thực hiện hợp đồng lao động” [152, tr.38]. Do đó, người lao động phải làm những công việc cụ thể mà người sử dụng lao động yêu cầu theo quy định về lao động. Quan hê giữa người lao động với doanh nghiêp và tổ chức xuất khẩu lao động là quan hê dịch vụ việc làm ngoài nước (còn gọi là dịch vụ xuất khẩu lao động), quan hê giữa người lao động với người sử dụng lao động nước ngoài là quan hê lao động. Các hình thức xuất khẩu lao động bao gồm: di chuyển lao động theo hợp đồng lao động cá nhân, di chuyển lao động theo hợp đồng cung ứng lao động và xuất khẩu lao động dưới hình thức hợp đồng đưa lao động đi thực tập, nâng cao tay nghề ở nước ngoài.

Trong khi đó di chuyển lao động ra nước ngoài để cung cấp dịch vụ là quá trình đưa người lao động ra nước ngoài để thực hiện thương mại dịch vụ trong một thời gian nhất định, khi đó người lao động cung cấp dịch vụ được gọi là hiện diện thể nhân (presence of natural persons). Di chuyển thể nhân là “hình thức cung cấp dịch vụ của một nước thành viên thông qua sự hiện diện thể nhân của một nước tại lãnh thổ của một nước thành viên khác” [2, tr.145]. Người lao động di chuyển theo hình thức hiện diện thể nhân, di chuyển trên thị trường dịch vụ theo thỏa thuận thương mại nhằm mục đích thực hiện một hợp đồng cung cấp dịch vụ chứ không phải tới để tìm việc làm. Những người cung cấp dịch vụ bao gồm “người cung cấp dịch vụ độc lập, người tự làm thuê cho mình và các nhân viên nước ngoài trong các công ty nước ngoài được thành lập trên lãnh thổ của một nước thành viên” [2, tr.145]. Trong đó, người lao động tự làm thuê cho mình/người lao động di cư tự làm chủ theo Công ước quốc tế năm 1990 về bảo vệ các quyền của người lao động di cư và thành viên gia đình họ là: một người lao động di cư tham gia vào một hoạt động có thù lao nhưng ngoài hợp đồng lao động và kiếm sống bằng hoạt động này, thường là làm một mình hoặc cùng với các thành viên trong gia đình của mình, bất kỳ người lao động di cư nào khác được công nhận là người lao động tự làm chủ chiểu theo luật pháp của nước đang làm việc hoặc theo các điều ước song phương hoặc đa phương.

Quan hệ giữa các đối tượng trong phương thức hiện diện thể nhân để cung cấp dịch vụ bao gồm: quan hệ giữa người lao động với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ được xác định là quan hê lao động, còn quan hệ giữa người lao động với người sử dụng dịch vụ là quan hê cung cấp dịch vu.