Khái niệm hệ thống công cụ quản lý nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp

Nền nông nghiệp, với tính cách là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân vận hành theo cơ chế của thị trường có sự quản lý của nhà nước hiện nay ở Việt Nam chỉ có thể phát triển phù hợp lợi ích chung của toàn bộ nền kinh tế khi có một hệ thống công cụ quản lý phù hợp. Hệ thống công cụ quản lý Nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp được hiểu là toàn bộ những phương tiện mà Nhà nước sử dụng theo những phương thức nhất định nhằm định hướng khuyến khích và phối hợp các hoạt động kinh tế để đưa nông nghiệp đạt tới mục tiêu. Nói một cách khác, có thể hiểu hệ thống công cụ quản lý Nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp là toàn bộ những phương tiện cần thiết mà nhờ đó các cơ quan và các cán bộ quản lý kinh tế các cấp sử dụng để điều tiết, hướng dẫn, khuyến khích, phối hợp…các hoạt động của tập thể và cá nhân trong các lĩnh vực khác nhau của ngành nông nghiệp hướng tới mục tiêu chung.

Trong hệ thống công cụ đó, việc sử dụng chúng như thế nào lại tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của bản thân nông nghiệp, hoàn cảnh trong nước hay quốc gia, tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước và năng lực đội ngũ cán bộ v.v… Trong cơ chế kinh tế kế hoạch trước đây, chúng ta cũng có hệ thống công cụ quản lý, nhưng được tạo ra để điều hành nền nông nghiệp quản lý tập trung và do vậy kế hoạch hoá là công cụ quan trọng nhất. Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường. Hệ thống công cụ quản lý mà nhà nước sử dụng cần phải đổi mới, gạt bỏ những yếu tố lạc hậu cho phù hợp với điều kiện mới. Đặc điểm chung của các phương tiện sử dụng để quản lý nền nông nghiệp kế hoạch hoá tập trung là mang tính chất can thiệp trực tiếp, áp đặt ý đồ của người quản lý lên đối tượng quản lý. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, các cơ quan quản lý nhà nước chỉ có thể can thiệp vào quá trình phát triển của nông nghiệp một cách gián tiếp qua cơ chế hoạt động của thị trường. Như vậy các chiến lược, các kế hoạch dài hạn, các dự án phát triển… được vạch ra cho nông nghiệp chỉ mang tính chất định hướng. Trên cơ sở định hướng này, nhà nước sử dụng công cụ pháp luật kinh tế và các hệ thống chính sách khuyến khích tác động vào quan hệ lợi ích của chủ thể kinh tế, khuyến khích họ vì theo đuổi lợi ích riêng mà hoạt động cho sự phát triển chung.