Khái niệm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Carroll (1991) lập luận rằng những lợi ích của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có thể rất sâu sắc trong nhiều mối quan hệ tổ chức khác nhau, không chỉ đơn giản khi nghĩ rằng có thể tách ra hoặc cô lập một phần các mối quan hệ đối với hiệu quả hoạt động. Theo Neville và cộng sự (2005) các kết quả hỗn hợp có thể là kết quả của việc không đầy đủ đặc điểm của mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động. Peterson (2004) và Carroll (2000) cho rằng việc cần có cách đo lường tốt hơn mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội và hiệu quả hoạt động. Fombrun và cộng sự (2000) lập luận rằng một tương quan đơn giản giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động là không thể vì trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động thông qua các tuyến trung gian. Bao gồm lợi ích kinh doanh như nâng cao danh tiếng; tăng doanh thu và lòng trung thành của khách hàng; tăng khả năng thu hút lao động. Neville và cộng sự (2005) xác định danh tiếng là một biến trung gian giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động. Như vậy, mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động là một mối quan hệ phức hợp với các bên liên quan.

Cụ thể, danh tiếng là rất quan trọng đối với sự thành công của doanh nghiệp (Roberts và cộng sự, 2002, Jayne và Skerratt, 2003) và một tài sản có giá trị lớn (Caminiti và Reese, 1992) đặc biệt trong thị trường cạnh tranh ngày nay. Martin (2009) cho rằng danh tiếng là một tài nguyên của doanh nghiệp và doanh nghiệp có danh tiếng sẽ dẫn đến có lợi thế cạnh tranh, và báo hiệu cho các bên liên quan về sự hấp dẫn của doanh nghiệp, những người sau đó sẽ sẵn sàng hợp tác với doanh nghiệp đó (Deephouse, 2000). Brammer và Millington (2005) báo cáo một mối quan hệ tích cực giữa một doanh nghiệp có danh tiếng và hiệu quả hoạt động. Theo Roberts (2003) một danh tiếng tốt sẽ nâng cao giá trị của mọi thứ mà một tổ chức nói và làm. Danh tiếng như là thước đo quan trọng nhất của sự thành công của doanh nghiệp. Roberts và Dowling (2002) nhận thấy rằng các doanh nghiệp với danh tiếng tương đối tốt sẽ có khả năng duy trì kết quả lợi nhuận tốt hơn theo thời gian. Một số tác giả cho rằng cách tiếp cận hiệu quả hơn có thể là để đánh giá tác động của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về các bên liên quan cá nhân (Peterson, 2004, Carroll, 2000). Cuối cùng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp sẽ cải thiện hiệu quả hoạt động bằng cách cải thiện  mối quan hệ của một doanh nghiệp với các nhóm liên quan có liên quan (Barnett, 2007). Pivato và cộng sự (2008) cũng kêu gọi nghiên cứu một mối tương quan trực tiếp giữa việc thực hiện trách nhiệm xã hội và hiệu quả hoạt động và giả thuyết đã được đưa ra rằng kết quả của các hoạt động trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là tạo ra sự tin tưởng giữa các bên liên quan với lợi ích kinh doanh của doanh nghiệp. Việc đo lường tác động của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đến hiệu quả hoạt động vẫn nhận những lời chỉ trích đăc biệt (Maignan và Ferrell, 2001) và vẫn còn thiếu sự nhất quán trong việc đo lường mối quan hệ giữa hai biến số này (Wu, 2006), và theo Curran (2005), Mitnick (2000) mối quan hệ này là một chủ đề rất khó đo lường.

Một số tác giả cho rằng cách tiếp cận hiệu quả hơn khi đo lường mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội với hiệu quả hoạt động là để đánh giá tác động của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về các bên liên quan (Peterson, 2004, Carroll, 2000). Họ đưa ra các giả thuyết cơ bản rằng thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

cải thiện hiệu quả hoạt động bằng cách cải thiện mối quan hệ của một công ty với các nhóm liên quan có liên quan (Barnett, 2007). Pivato và cộng sự (2008) cũng kêu gọi các nghiên cứu nên nghiên cứu cả mối tương quan trực tiếp giữa hiệu quả hoạt động và hiệu quả xã hội được đo lường thông qua các hoạt động trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp từ đó tạo ra sự tin tưởng giữa các bên liên quan và mang đến lợi ích kinh doanh cho các bên liên quan. Nhóm lợi ích của kinh doanh tù việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được đề xuất bao gồm một hình ảnh và danh tiếng tăng cường; tăng doanh thu và lòng trung thành của khách hàng; tăng khả năng thu hút, động viên và giữ lại nhân viên; tăng cường khả năng tiếp cận vốn của nhà đầu tư và giảm chi phí hoạt động (Sweeney, 2009).

Trong khi có một số lượng lớn các nghiên cứu đo lường mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hiệu suất tài chính, các nghiên cứu sử dụng một cách tiếp cận tinh vi hơn đại diện cho một khía cạnh khác, (Preston và Sapienza, 1990, Berman và Wicks, 1999) cho rằng nhà nghiên cứu thường cho rằng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có thể cải thiện khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp trong dài hạn, ngụ ý một mối quan hệ tích cực giữa sự tham gia của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp của một công ty và thành công tài chính của doanh nghiệp đó (Weber, 2008). Trong khi rất nhiều điểm nghiên cứu trong mối quan hệ tích cực nhẹ (Orlizky và cộng sự, 2003), sự kết nối này không được thiết lập đầy đủ (Neville và cộng sự, 2005, Prado-Lorenzo và cộng sự, 2008, Park và Lee, 2009) và việc thông qua các hoạt động trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp hiệu quả tài chính được tăng cường là không được rõ ràng (Jawahar và McLoughlin, 2001, Doh và cộng sự, 2009).

Mặc dù nhiệm vụ xác định mối quan hệ giữa hoạt động tài chính và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đã được chứng minh là một điều rất khó khăn, nếu doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội là để đạt sự nổi tiếng hay có được một vị trí nào đố trong lòng khách hàng thì mối quan hệ này là một vấn đề vô cùng quan trọng (McGuire và cộng sự, 1988). Các nhà lãnh đạo doanh nghiệp luôn tự đặt câu hỏi và thường phủ quyết chi tiêu các chương trình không có ảnh hưởng tích cực lên lợi  nhuận, đó là đặc biệt nổi bật trong môi trường kinh tế hiện nay.

Có một lập luận mạnh mẽ rằng các công ty không hành động trong một trách nhiệm xã hội sẽ làm giảm đáng kể hiệu quả hoạt động (Thorne và cộng sự, 1993). Nghiên cứu của Davidson và Worrell (1988) ủng hộ giả thuyết trên. Nghiên cứu cho thấy có mối tương quan tiêu cực mạnh giữa doanh nghiệp thiếu trách nhiệm và hoạt động của thị trường chứng khoán. Frooman (1997) đã phân tích cổ phiếu phản ứng của thị trường đối với các trường hợp hành vi vô trách nhiệm xã hội hoặc bất hợp pháp và tìm ra ảnh hưởng xấu, có ý nghĩa thống kê và đáng kể về quy mô. Wokutch và Spencer (1987) đã nghiên cứu tỷ suất lợi nhuận năm năm và tài sản năm năm trở lại trên doanh thu của 130 các công ty sản xuất, sau khi chia các công ty thành bốn nhóm liên quan đến xã hội. Các kết quả được lặp lại bởi Davidson và Worrell (1995). Cung cấp một lời giải thích, Hoven Stoh và Brannick (1999) cho rằng những người bỏ qua trách nhiệm xã hội của họ có thể thấy mình bị tẩy chay, bị hủy hoại danh tiếng và sự suy giảm nghiêm trọng trong kinh doanh (Heath và Norman, 2004).

Theo Berman và Wicks (1999) và Preston và Sapienza (1990) có một lĩnh vực không được đề cập đến trong các nghiên cứu về giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó là việc đánh giá tác động đến việc cải thiện lợi ích của các bên liên quan chính, Hillman và Keim (2001) cũng nhận thấy rằng việc quản lý lợi ích các bên liên quan giúp cải thiện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Nó có được lập luận rằng hợp tác làm việc với các cổ đông sẽ dẫn đến tăng cường lợi nhuận (Jones, 1995, Clarkson, 1995). Preston và Sapienza (1990) đã tìm ra mối quan hệ tích cực giữa các bên liên quan trong việc quản lý được đo lường bởi mối quan hệ của doanh nghiệp đối với quan hệ nhân viên, khách hàng, dịch vụ, cộng đồng và môi trường, chất lượng quản lý và doanh nghiệp dẫn đến tăng trưởng lợi nhuận.

Nâng cao hiệu quả hoạt động được đo lường bằng lợi nhuận trên tài sản (ROA) của công ty. Ogden và Watson (1999) đã đánh giá cụ thể ảnh hưởng của việc tăng cường dịch vụ khách hàng và thấy rằng việc tăng cường sự hài lòng của bên liên quan (cụ thể là khách hàng) đã làm tăng khả năng sinh lời trong tương lai và lợi nhuận của cổ đông.

Trong quá trình nghiên cứu của các tác giả trên thế giới, lập luận cốt lõi dựa trên tiền đề mà các lãnh đạo là phản ánh mối quan tâm thực sự cho lợi ích của tất cả các bên liên quan là những người giúp cho kết quả sản xuất cao hơn việc giúp cho lợi nhuận của cổ đông trong thời gian dài. Collins và Porras (1997) đã tìm ra yếu tố phân biệt chính giữa các công ty có tầm nhìn xa với doanh nghiệp không chuyên nghiệp, những doanh nghiệp có tầm nhìn xa trông rộng thể hiện qua những giá trị cốt lõi của doanh nghiệp, cụ thể các giá trị đó bao gồm đổi mới cho doanh nghiệp, nâng cao mức sống cho người khác, làm giàu cộng đồng địa phương. Và các doanh nghiệp này đã tồn tại lâu dài không chỉ vì những lý do tối đa hóa lợi nhuận mà là vượt xa về giá trị của doanh nghiệp lâu dài. Waddock and Graves (2000) cũng nghiên cứu và tìm thấy các doanh nghiệp có tầm nhìn xa trông rộng tốt hơn các đối tác của họ liên quan đến lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, tài sản và doanh thu– trong dài hạn. Họ cũng nhận thấy rằng các doanh nghiệp này nhận được lợi ích từ các liên quan tốt hơn. Trong một nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu Harvard Kotter và Heskett (1992), nó đã được tìm thấy trong hơn một năm, các doanh nghiệp lớn của Mỹ đã tạo nên sự bình đẳng cho nhân viên, khách hàng và cổ đông dẫn đến việc tăng trưởng doanh số bán hàng lên gấp bốn lần và tăng trưởng việc làm gấp tám lần.

Theo Parket và Eilbirt (1975), Ullman (1985) và Tsoutsoura (2004), nếu trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là được coi là một chi phí đáng kể, các công ty có kết quả tài chính khá cao trong quá khứ có thể sẵn sàng chấp nhận những chi phí này trong tương lai. Waddock and Graves (1997), Balabanis và cộng sự (1998) đã kiểm tra mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trước, đồng thời và sau của hiệu quả hoạt động. Kết quả của cả hai nghiên cứu ủng hộ lý thuyết các bên liên quan và lý thuyết quản lý tốt. Họ lập luận rằng một vòng tròn đạo đức có thể là lời giải thích tốt nhất. Đó là, phản ánh các kết quả hỗn hợp của các nghiên cứu đánh giá mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động, Carroll (1991) lập luận rằng những lợi ích của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có thể ẩn sâu bên trong nhiều mối quan hệ giữa các tổ chức khác nhau như các mối quan hệ với các bên liên quan mà không thể tách ra một phần hoặc cô lập một số mối quan hệ này khi liên kết với hiệu quả hoạt động.

Ngược lại, theo Neville và cộng sự (2005) kết quả hỗn hợp chỉ là kết quả của việc không thể hiện đầy đủ đặc điểm của mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động. Peterson (2004) và Carroll (2000) cho rằng các nghiên cứu trước đó đã chuyển từ đo lường sự tương quan giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động sang xem xét tác động của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đến các bên liên quan sẽ hiệu quả hơn. Tương tự, Fombrun và cộng sự (2000) lập luận rằng một tương quan đơn giản giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh là không có mối quan hệ vì trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động chỉ thông qua các bên trung gian.

Bao gồm lợi ích kinh doanh như hình ảnh nâng cao và danh tiếng; tăng doanh thu và lòng trung thành của khách hàng; tăng khả năng thu hút bất kỳ doanh nghiệp nào và sự thu hút và lòng trung thành của các bên liên quan này chính là tăng lợi ích kinh doanh Roner (2006).

Trong nghiên cứu này, các nghiên cứu của Margolis và Walsh (2001), Orlitzky và cộng sự. (2003), và Dam (2008) đã được thực hiện và những phát hiện thực nghiệm từ năm 1972 đến năm 2012 được đưa ra dựa trên cơ sở các biện pháp như lợi nhuận của thị trường, tỷ lệ lợi nhuận kế toán và tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và lợi nhuận trên doanh thu (ROS). Đây là cơ sở sẽ cung cấp các bằng chứng như là ghi chép về trách nhiệm xã hội và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ở phương diện tài chính cho các nhà nghiên cứu lý thuyết tiếp theo (Ali Raza và cộng sự, 2012).

Các câu hỏi nghiên cứu của luận án này là: Là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có tương quan dương với hiệu quả hoạt động tài chính doanh nghiệp Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có tương quan dương với hiệu quả tài chính doanh nghiệp khi sử dụng các chỉ tiêu lợi nhuận trên tài sản (ROA), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và lợi nhuận trên doanh thu (ROS) (Orlitzky và cộng sự, 2003). Tất cả các nghiên cứu này đều cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa trách nhiệm xã hội và hiệu quả tài chính bằng cách sử dụng tỷ lệ thị trường / sổ sách (Ali Raza và cộng sự, 2012). Lợi nhuận trên Tài sản (ROA), lợi nhuận trên vốn (ROE) và lợi nhuận trên Bán hàng (ROS) là các chỉ số kế toán cho thấy cách quản lý hiệu quả và hiệu quả sử dụng tài sản và vốn cổ phần của công ty để tăng doanh thu và doanh thu để kiếm lợi nhuận (Dam, 2008).

Trong luận án, để dễ đo lường và quan sát tác giả tập trung phân tích hiệu quả hoạt động trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bị tác động bởi việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Trong đó, để đánh giá hiệu quả về tài chính của doanh nghiệp, các nhà quản trị và các nhà đầu tư thường quan tâm đến các chỉ tiêu lợi nhuận như: hệ số lãi ròng (ROS), suất sinh lời của tài sản (ROA), suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE),v.v…