Khái niệm lãi suất và nhân tố ảnh hưởng

Khái niệm lãi suất

Lãi suất là mức giá cả mà ngƣời đi vay trả cho việc  sử dụng số tiền mà họ  vay  từ  một ngƣời cho vay hoặc  một tổ chức tài chính hay đƣợc xem nhƣ một khoản phí trả cho  tài sản vay (Crowley, 2007). Đây là những yếu tố kinh tế chính ảnh hƣởng đến tăng trƣởng kinh tế  trong nền kinh tế.  Theo  Irving Fisher  ―lãi suất là cầu nối giữa thu nhập và vốn.‖  và ―lãi suất là tỷ lệ  phần trăm giữa số  tiền phải trả trên số  vốn vay mƣợn sau một năm‖. Quan điểm Robert J.Gordoncho  rằng ―lãi suất là tỷ lệ  phần trăm mà ngƣời  đi vay phải trả cho ngƣời  cho vay‖.  Nhƣ vậy,  lãi suất  đƣợc hiểu là giá cả của quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định mà ngƣời sử dụng vốn phải trả cho ngƣời sở hữu vốn (định tính) hay chính là tỷ suất phần trăm  giữa  tiền lãi và  vốn  cho  vay  trong một thời  gian nhất định, thƣờng là một năm(định lƣợng).

Ngoài ra, lãi suất còn đƣợc xem là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh  hƣởng đến hiệu suất tài chính (Financial performance)16 của các  ngân  hàng.  Theo Mang‘eli (2012), sự biến động của lãi suất  thị  trƣờng lan rộng gây ảnh hƣởng đáng kể  đến hiệu quả hoạt động của các  NHTM.  Trong  điều  kiện  nói  chung,  lợi  nhuận  ngân  hàng sẽ tăng khi mức  lãi  suất  tăng.  Ông  lập luận rằng hệ  thống ngân  hàng  sẽ  hoạt  động vô cùng hữu ích hơn là bị cản trở bởi sự gia tăng lãi suất. Hiệu suất tài chính của các

ngân hàng đƣợc thể  hiện dƣới  dạng  lợi  nhuận.  Khả  năng  sinh lời  là khả năng của công  ty để kiếm mức lợi nhuận hợp lý trên cơ sở vốn đầu tƣ của chủ sở hữu (Buffett, 2005).  Các thƣớc đo lợi nhuận phổ biến nhất là: Tỷ  suất  lợi  nhuận  trên  doanh  thu  (Profit  margin on Sale); Tỷ suất thu nhập trên vốn đầu tƣ (Return investment ratios) và  tỷ suất  sinh lời trên vốn chủ sở hữu (return on equity).

Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất

Trong nền kinh tế thị  trƣờng, lãi  suất  đƣợc hình thành từ quan hệ vay mƣợn vốn lẫn nhau nên thƣờng chịu tác động bởi nhiều nhân tố nhƣ cung –  cầu  vốn  trên thị trƣờng, tỉ lệ lạm phát, mục tiêu CSTT, rủi ro và kì  hạn tín dụng, đầu tƣ …. Về  cơ bản  trong lịch sử kinh tế học, có hai quan điểm về  việc xác  định nhân tố ảnh hƣởng đến lãi suất nhƣ sau:

  • Thứ nhất là quan điểm của lý thuyết cung – cầu quỹ cho vay (LFT-  loanable funds theory): Đây là quan điểm của các nhà kinh tế học cổ điển của thế  kỷ thứ mƣời  chín và đầu thế kỷ hai mƣơi, là cơ sở của lãi suất trong kinh tế  vi  mô. Theo  lý thuyết  LFT, tỷ lệ lãi suất đƣợc  xác  định bởi yếu tố sản xuất  thực  (tài sản cố định, khả năng trả nợ của ngƣời đi vay) và yếu tố tiết kiệm (bộ phận những ngƣời tiết kiệm sẽ quyết định mức độ sẵn sàng cho vay).  Các  giả định  của lý thuyết  này  là nền kinh  tế  đang  hoạt  động hết công suất; các mức giá cả là không  đổi; mức  cung  tiền là cố định; thị trƣờng có đƣợc thông tin hoàn hảo. Lý  thuyết  cung  –cầu quỹ  cho  vay  giải  thích về  việc  lãi suất sẽ đƣợc xác định nhƣ thế nào  khi  nền kinh  tế  đạt  trạng thái  cân bằng  trong dài  hạn. Hiệu quả của những giả định  này  là để  đảm  bảo  rằng  nguồn  cung  duy  nhất  của quỹ cho vay là tiết kiệm, trong khi nhu  cầu vay  duy  nhất  đến từ đầu tƣ và  ảnh hƣởng  duy nhất đến cung-cầu quỹ cho vay là lãi suất. Với giả định của lý thuyết LFT là giá cả không đổi, khi đó, lãi suất thực và lãi suất  danh  nghĩa  là  đồng  nhất.  Vì  vậy,  sự  giải thích về lãi suất thực cũng là sự giải thích cho lãi suất danh nghĩa. Ngoài ra, lãi suất thị trƣờng còn chịu tác động của một số nhân tố khác nhƣ: lạm phát kỳ vọng, lợi nhuận kỳ vọng của nhà đầu tƣ, bội chi NSNN… dẫn đến sự dịch chuyển của lãi suất thị trƣờng.
  • Thứ hai là quan điểm của lý thuyết ƣa thích thanh khoản (LPT- liquidity preference theory)  đƣợc  biết đến trong kinh tế  vĩ mô, là kết quả  của ―Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ‖ của John Maynard  Keynes  (1936). Ông cho  rằng khả năng tiết kiệm của ngƣời dân phụ thuộc  nhiều nhất  vào  mức thu nhập của họ; tiếp đó là lãi suất  sẽ  vai  trò  ảnh hưởng đến quyết  định tiết kiệm của các  chủ thể.  Sự nhấn mạnh về lãi suất của Keynes chính là liên quan  đến tính  thanh  khoản,  Keynes  đã chọn giải thích lãi suất nhƣ là kết quả của sự tƣơng tác giữa cung và cầu tiền tệ. Với giả định của cách tiếp cận theo lý thuyết ƣa thích thanh khoản của Keynes nhƣ sau: hành vi của các trung gian tài chính quyết định mức  lãi  suất  danh nghĩa. Lãi  suất  thực  tế  sẽ phụ thuộc vào biến động giá cả và khả năng dự báo chính xác mức độ biến động; Lãi suất danh nghĩa được xác định bởi nhu cầu  tiền tƣơng  quan  với  nguồn cung của nó; Nhu cầu về tiền phụ thuộc vào mức giá và tốc độ  của nền kinh  tế  nhƣng  nó  cũng  phụ  thuộc  vào cầu tích lũy tiền nhƣ một tài sản an toàn trong một thế giới  biến động; Mức độ bất  ổn của các trung gian tài chính là khác nhau, dẫn đến biến động về nhu  cầu về  tiền và kéo  theo lãi suất danh nghĩa;  Cung  tiền là  độc lập với  nhu cầu của nó  và  đƣợc  giả định là  cố định bởi các hành động của cơ quan quản lý tiền tệ.

Như vậy, lãi suất là công cụ kinh tế vận hành theo quy luật  thị  trường,  được NHTW sử dụng để kiểm soát lạm phát và thúc  đẩy phát  triển kinh tế  (Corb, 2012). Lãi suất tăng hay giảm được giải thích bởi  lý thuyết về  cung cầu vốn  vay  hay  cung cầu về tiền tệ. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, cơ chế vận hành của lãi suất là do thị trường quyết định, các chủ  thể  tự  do  cạnh tranh và  cung cầu sẽ  tự điều chỉnh về  mức lãi suất cân bằng. Tuy nhiên, nếu để thị trường tự  điều tiết, không có sự kiểm soát của Nhà nước sẽ dẫn đến các hạn chế  như  tình trạng cạnh  tranh khiến lãi suất  tăng  cao, tình trạng ép giá xảy ra…., dẫn đến hạn chế đầu tƣ, thu hẹp sản xuất, cạnh tranh thiếu  lành mạnh giữa các  TCTC,  gây mất  ổn định thị  trường …, vì  vậy,  cần phải  có sự quản  lý của Nhà nước đối với các hoạt động của thị trường.