Khái niệm lợi ích kinh doanh

Theo Harrison và Freeman (1999); Hillman và Keim (2001); Brammer và cộng sự (2007); Maignan và Ferrell (2001) lưu ý rằng có rất nhiều nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động nhưng một số ít nghiên cứu đã đề cập đến tác động của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đến các nhóm liên quan khác nhau dẫn đến lợi ích kinh doanh đối với các nhóm liên quan đáp trả lại cho doanh nghiệp của việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

Trong nghiên cứu của Weber (2008), đã minh họa sơ đồ tổng thể cho phép các nhà quản lý đánh giá các trường hợp thực hiện hành động trách nhiệm xã hội ảnh hưởng như thế nào đến giá trị lợi ích kinh doanh của công ty mình. Với cách tiếp cận này có thể tăng cường hiệu quả cho sự tham gia thực hành trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và hỗ trợ cho việc ra quyết định hợp lý trong lĩnh vực này.

Dựa vào hình 2.2, có thể nhận thấy tác dụng của việc thực hiện trách nhiệm xã hội ảnh hưởng đến :

Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp góp phần điều chỉnh phẩm chất quản trị kinh doanh của chủ thể doanh nghiệp (Weber, 2008)

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cũng là cam kết đạo đức của giới kinh doanh về sự đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội bằng cách nâng cao đời sống của lực lượng lao động và gia đình họ, đồng thời nó mang lại các phúc lợi cho cộng đồng và xã hội.

Từ đó, doanh nghiệp chứng minh phẩm chất kinh doanh thông qua trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp sẽ đạt thêm cơ hội hợp tác với các đối tác tiềm năng, cải thiện cơ hội tiếp cận vốn và các điều kiện nâng cấp kinh doanh đảm bảo lợi thế cạnh tranh và tính ổn định cho sản xuất.

  • Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp góp phần tích lũy thành quả, gia tăng thành tựu của chủ thể doanh nghiệp (Weber, 2008) cụ thể
  • Cải thiện hình ảnh đại diện của doanh nghiệp

Đối với khách hàng, nếu sản phẩm đáp ứng tốt nhu cầu của người tiêu dùng, hình ảnh về sản phẩm và doanh nghiệp để lại dấu ấn lưu giữ trong tâm trí người tiêu dùng. Đối với cộng đồng nói chung, bảo vệ môi trường (cũng chính là bảo vệ sức khỏe của công chúng) và làm từ thiện sẽ giúp doanh nghiệp xây dựng vững vàng hình ảnh đẹp, giàu thiện cảm với công chúng.

Lao động có năng lực là yếu tố quyết định năng suất kinh doanh của doanh nghiệp. Những doanh nghiệp chú trọng chu cấp cho người lao động điều kiện làm việc tốt có khả năng tạo được hình ảnh có sức hút khi tuyển dụng người mới và tăng thêm niềm tự hào của nhân viên khi làm việc cho doanh nghiệp, giúp giữ vững lập trường tin tưởng của nhân viên giỏi tiếp tục cống hiến cho doanh nghiệp.

  • Nâng cao giá trị thương hiệu của doanh nghiệp

Công bố thông tin minh bạch, điều hành công ty hiệu quả, có sự tiếp cận tích cực trong quan hệ với các thành phần xã hội là điều cần phải làm đối với bất kỳ doanh nghiệp nào vì sự phát triển bền vững của chính doanh nghiệp. Có như thế, mới củng cố được thế mạnh uy tín của doanh nghiệp trên thương trường làm tăng giá trị thương hiệu, thuyết phục được niềm tin và thu hút thêm được các nhà đầu tư, các đối tác hợp tác chung.

  • Nâng cao kết quả kinh doanh cho doanh nghiệp

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở những vấn đề vừa nêu, nhưng nhìn chung đây là các vấn đề trọng tâm. Thực hiện tốt trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đem lại rất nhiều lợi ích.

Các mối liên kết cụ thể giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động, khoảng cách này theo Peterson (2004) và Carroll (2000) đã chuyển từ việc đo lường sự tương quan giữa việc đo lường về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và việc đo lường về hiệu quả hoạt động. Hiệu quả và một cách suy nghĩ hiệu quả hơn có thể là xem xét tác động của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp lên các bên liên quan cá nhân và lợi ích mà các bên này nhận được.

Nghiên cứu đánh giá mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động, Carroll (1991) lập luận rằng những lợi ích của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có thể rất sâu sắc, ẩn sâu bên trong đó là nhiều mối quan hệ tổ chức khác nhau mà thật sự chúng ta không thể thể tách ra một phần hoặc cô lập một số mối quan hệ thể hiện được đối với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Kết quả của các hoạt động trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là tạo ra sự tin tưởng giữa các bên liên quan, lợi ích được tạo ra cho các bên liên quan trong kinh doanh từ những hoạt động và lợi ích của việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm một hình ảnh và danh tiếng được gia tăng; tăng doanh thu và lòng trung thành của khách hàng; tăng khả năng thu hút, động viên và giữ lại nhân viên; tăng cường khả năng tiếp cận vốn và nhà đầu tư và giảm chi phí hoạt động (Sweney, 2004).

Tương tự, Fombrun và cộng sự (2000) lập luận rằng một mối tương quan trực tiếp giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động là không có mối tương quan vì trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động thông qua các yếu tố trung gian: bao gồm lợi ích kinh doanh như nâng cao hình ảnh và danh tiếng; tăng doanh thu và lòng trung thành của khách hàng; tăng khả năng thu hút, động viên và giữ chân nhân viên; tiết kiệm chi phí và tăng khả năng tiếp cận vốn. Mỗi lợi ích kinh doanh bây giờ được phân tích chi tiết theo mối tương quan giữa trực tiếp giữa và gián tiếp; và theo mối tương quan cùng nhau (Sweney, 2004)

Waddock and Graves (2000) đã tìm thấy các doanh nghiệp có tầm nhìn xa trông rộng vượt trội so với các đối thủ cạnh tranh sẽ mang đến lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, tài sản và doanh thu từ 1989 đến 1996 cao hơn. Họ cũng nhận thấy rằng các doanh nghiệp này có các hoạt động liên quan đến các bên liên quan tốt hơn. Trong khi Lorca và Garcia-Diez (2004) cho rằng môi trường kinh doanh đã thay đổi đáng kể trong những năm qua, như vậy, ngày hôm nay thành công không còn phụ thuộc vào sự hài lòng của khách hàng mà là trên sự hài lòng của tất cả các bên liên quan của doanh nghiệp.

Khi lập luận rằng việc không đưa lợi ích của tất cả các bên liên quan vào kết quả các báo cáo làm cho các cổ đông không muốn đầu tư vào doanh nghiệp, khách hàng từ chối mua sản phẩm doanh nghiệp, nhân viên giảm lòng trung thành của họ, nhà cung cấp không sẵn lòng cung cấp kiến thức, khả năng và nguồn lực của họ và cuối cùng, các cộng đồng không dung thứ cho doanh nghiệp (Lorca và Garcia-Diez, 2004). Như vậy, sự tồn tại lâu dài và thành công của một doanh nghiệp được xác định bởi khả năng thiết lập và duy trì mối quan hệ với toàn bộ mạng lưới các bên liên quan (Post và cộng sự, 2002)

Ailen, Whooley (2005) đã lập luận rằng danh tiếng tốt làm cho doanh nghiệp sẽ nâng cao khả năng sinh lời và đóng góp vào thành công lâu dài. Theo Curran (2005) trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là một thành phần quan trọng trong danh tiếng của một doanh nghiệp. Một doanh nghiệp được coi là có trách nhiệm với xã hội có thể hưởng lợi từ sự nổi tiếng của doanh nghiệp với công chúng, cũng như danh tiếng tốt trong cộng đồng doanh nghiệp, tăng khả năng thu hút vốn và tăng các đối tác thương mại của doanh nghiệp đó (Schiebel và Pochtrager, 2003). Pfau và cộng sự (2008) cho thấy các chiến dịch trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đã tăng cường nhận thức về hình ảnh và uy tín của doanh nghiệp.

Wang (2008) cũng được tìm thấy tin tức trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tích cực có ảnh hưởng tích cực đến hình ảnh doanh nghiệp nhưng họ cũng lưu ý rằng tác động tiêu cực của tin tức trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tiêu cực là rộng rãi hơn nhiều. Ngoài ra, một số nghiên cứu lập luận rằng các nhà cung cấp ít quan tâm  đến nguy cơ hợp đồng khi ký kết hợp đồng với các doanh nghiệp có danh tiếng tốt (Roberts và Dowling, 2002). Nó có thể giúp thu hút nhân viên (Schnietz và Epstein, 2005) và có thể tăng cường khả năng tiếp cận thị trường vốn của doanh nghiệp và thu hút các nhà đầu tư (Fombrum và Shanley, 1990, Schnietz và Epstein, 2005).

Người tiêu dùng đại diện cho một trong những nhóm quan trọng nhất của các bên liên quan (Rugimbana và cộng sự, 2008). Một người tiêu dùng có ý thức về xã hội có tính đến các hậu quả cho xã hội thông qua hành vi tiêu dùng cá nhân của họ (Webster, 1975). Khách hàng là một bên liên quan chính cho bất kỳ doanh nghiệp nào và sự thu hút và lòng trung thành của bên liên quan này là yếu tố cơ bản cho bất kỳ công việc kinh doanh của doanh nghiệp. Pivato và cộng sự (2008) nhận thấy rằng người tiêu dùng nhận thức rằng một doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội là doanh nghiệp có trách nhiệm cao hơn trong việc sản xuất sản phẩm cho người tiêu dùng của doanh nghiệp đó. Điều này sẽ dẫn đến tăng doanh số bán hàng và lòng trung thành của khách hàng trong giai đoạn người tiêu dùng đang ngày càng quan tâm đến hành vi xã hội của một doanh nghiệp (Dawkins và Lewis, 2003, Knowles và Hill, 2001; Schiebel và Pochtrager, 2003; Hopkins, 2003; Vogel, 2005).

Tăng doanh thu và lòng trung thành của khách hàng; tăng khả năng thu hút, động viên và giữ lại nhân viên; tăng cường khả năng tiếp cận vốn và nhà đầu tư và giảm chi phí hoạt động (Preston và Sapienza, 1990, Berman và Wicks, 1999). Một khi được nhiều người chấp nhận, các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay được công nhận là động lực chính trong phát triển kinh tế (Spence và Rutherfoord, 2001). Từ những năm 1980 số lượng và tầm quan trọng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã tăng lên đáng kể (Jenkins, 2004), nhóm này được cho là đại diện cho một trong những thành phần quan trọng nhất và được xem như nền tảng của nền kinh tế (Hillary, 2000) Doanh nghiệp nhỏ tạo ra nhiều việc làm và được xem như là một nguồn lực của sự đổi mới và tinh thần kinh doanh trong nền kinh tế (Wilkinson, 1999). Như vậy, chỉ tập trung vào các doanh nghiệp lớn làm đại diện cho lý thuyết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Spence và cộng sự, 2001) và bỏ qua các doanh nghiệp này khi nghiên cứu trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là bỏ qua một mảng quan trọng của hoạt động kinh doanh của nền kinh tế (Quinn, 1997).

Mặc dù rõ ràng rằng vô trách nhiệm có tác động tiêu cực đến hoạt động tài chính trong ngắn hạn (Thorne và cộng sự, 1993; Davidson và Worrell, 1998), và tác động đến hiệu quả tài chính của hành vi có trách nhiệm của doanh nghiệp vẫn chưa rõ ràng. Song, phần lớn các nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ tích cực giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động (Brammer và cộng sự, 2007, Orlitzy và cộng sự, 2003), tuy nhiên, nhiều nghiên cứu vẫn không tìm thấy mối quan hệ giữa này (Mill, 2006), trong khi một số khác tìm thấy có mối quan hệ âm (Moore, 2001). Như vậy, theo Davidson và Worrell (1990), vẫn còn thiếu hiểu biết về mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội và hiệu quả hoạt động (Wu, 2006, Park và Lee, 2009) và các cơ chế thông qua việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả hoạt động vẫn chưa được hiểu rõ (Doh và cộng sự, 2009).

Hầu hết các doanh nghiệp rất quan tâm và chấp nhận các kết quả kinh doanh gia tăng tích cực và dễ dàng đo lường cụ thể thông qua các chỉ tiêu tài chính như: tiết kiệm chi phí, tăng trưởng doanh thu, tăng luồng tiền mặt hoặc tăng lợi nhuận. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp khác lại cho rằng đo lường các chỉ tiêu tài chính và rõ ràng nếu không xét đến các chỉ tiêu phi tài chính được gọi là lợi ích kinh doanh cụ thể đó  là: sự hài lòng của khách hàng, sự tham gia của người lao động, giảm rủi ro, xây dựng thương hiệu, chất lượng cung cấp dịch vụ, hình ảnh công ty và các định nghĩa về chủng tộc cho chi phí và lợi ích. Lợi ích kinh doanh có thể được định nghĩa là kết quả của hành động hoặc quyết định đóng góp vào việc đáp ứng các mục tiêu kinh doanh. Định nghĩa này phục vụ tốt cho nhiều kế hoạch kinh doanh và nhu cầu phân tích kinh doanh. Xác định lợi ích kinh doanh về các mục tiêu kinh doanh cung cấp cơ sở thực tế để đo lường, định giá và so sánh cả lợi ích tài chính và phi tài chính (Webber, 2008)

Các doanh nghiệp thường có các mục tiêu tài chính khác hỗ trợ mục tiêu lợi nhuận, chẳng hạn như doanh thu bán hàng tăng lên, lợi nhuận tăng lên, kiểm soát chi phí, ở trong ngân sách, tiết kiệm chi phí hoặc tránh chi phí. Tất cả các kết quả đóng góp trực tiếp cho việc đạt được các mục tiêu này là những lợi ích về tài chính. Bất kỳ kết quả hành động nào có thể đóng góp cho mục tiêu lợi nhuận được xem như một lợi ích kinh doanh. Lưu ý trước tiên là các kết quả như tăng doanh số bán hàng, hoặc tiết kiệm chi phí đáp ứng tiêu chí này. Khi có thể ước tính đóng góp vào lợi nhuận, thì giá trị tài chính của lợi ích cũng được biết đến. Bằng chứng cho thấy các nhân viên có vai trò trung tâm trong việc triển khai các chiến lược trách nhiệm xã hội (Aguilera và Williams, 2007; Rupp và Gananpathy, 2006) cũng như trong quản lý của nhân viên (Millington và Rayton, 2007). Mặc dù một số nghiên cứu về trách nhiệm xã hội đã áp dụng quan điểm hành vi tổ chức (Albinger và Freeman, 2000, Greening và Turban, 2000), chủ yếu tập trung vào việc thực hiện trách nhiệm xã hội tác động đến các nhân viên tiềm năng và tăng tính hấp dẫn của công ty. Nghiên cứu này ủng hộ ý tưởng cho rằng trách nhiệm xã hội tích cực ảnh hưởng đến sự hấp dẫn của công ty nhưng ít đề cập đến trách nhiệm xã hội thực sự ảnh hưởng đến nhân viên như thế nào? Một số nghiên cứu thực nghiệm cho thấy tác động của trách nhiệm xã hội đối với nội bộ nhân viên có xu hướng tập trung vào các khía cạnh cụ thể của các cam kết tổ chức (Brammer và cộng sự, 2007; Maignan và Ferrell, 2001a, Peterson, 2004). Do tính chất đa chiều của việc thực hiện trách nhiệm xã hội (Husted, 2000, Wood, 1991) nên có thể ảnh hưởng đến một phạm vi rộng các thái độ và hành vi tổ chức ngoài cam kết của tổ chức.

Các nhà nghiên cứu đã và đang nghiên cứu về vai trò của hành vi của các bên liên quan như là một biến số trung gian giữa trách nhiệm xã hội và hiệu quả hoạt động (Barnett, 2007; Rowley và Berman, 2000, Wood và Jones, 1995), nhưng chủ yếu tập trung chú trọng vào người tiêu dùng. (Brown và Dacin, 1997; Luo và Bhattacharya, 2006; Schuler và Cording, 2006, Sen và Bhattacharya, 2001) đã có một đóng góp quan trọng là đã trình bày được một mô hình giải thích một cách có hệ thống thái độ và  hành vi của nhân viên ảnh hưởng như thế nào đến quan hệ giữa trách nhiệm xã hội và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Theo nghiên cứu của Ashforth và Mael (1989) với mục tiêu chính là cung cấp một mô hình tích hợp để giải thích làm thế nào để thấy được trách nhiệm xã hội ảnh hưởng đến thái độ, hành vi và hiệu suất làm việc của nhân viên. Nghiên cứu thực nghiệm đã nhấn mạnh và xác định được cách để việc gây ảnh hưởng của việc doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người tiêu dùng và nhân viên (Bhattacharya và Sen, 2004, Maignan và Ferrell, 2001; Maignan, Ferrell và Hult, 1999; Peterson, 2004, Sen và Bhattacharya, 2001). Những nghiên cứu về lý thuyết gần đây cũng cho thấy sự quản lý của các bên liên quan gắn liền với việc nhận dạng tổ chức (Brickson, 2005, Scott và Lane, 2000). Như vậy, việc thực hiện trách nhiệm xã hội sẽ mang đến các lợi ích cho các bên liên quan mà việc đo lường định lượng là khó. Nhưng tác động đến các bên liên quan của doanh nghiệp khi thực hiện trách nhiệm xã hội được đo lường bằng các lợi ích được gọi là phi tài chính. Không phải tất cả các mục tiêu kinh doanh được xác định trước về mặt tài chính. Người kinh doanh thường xác định các mục tiêu cho sự hài lòng của khách hàng hoặc hình ảnh của công ty (Maignan và Ferrell, 2001; Maignan, Ferrell và Hult, 1999) như về các chỉ số hiệu suất hoạt động phi tài chính (Brickson, 2005). Trong khi một số nhà nghiên cứu đánh giá rằng việc đóng góp của thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đến các mục tiêu phi tài chính là lợi ích kinh doanh không rõ ràng, không đo lường được, không xứng đáng được xem xét nghiêm túc. Những người còn lại, có thể nói rằng những lợi ích đó rất quan trọng (Bhattacharya và Sen, 2004), nhưng vẫn không biết làm thế nào đo lường và đánh giá chúng. Hoặc, có thể không biết làm thế nào để so sánh chúng với lợi ích tài chính. Lợi ích kinh doanh là kết quả của một hành động hay quyết định góp phần hướng tới đáp ứng một hoặc nhiều mục tiêu kinh doanh. Việc tìm kiếm lợi ích kinh doanh bắt đầu với một sự hiểu biết về các mục tiêu kinh doanh và giải quyết bằng hành động. Lợi ích kinh doanh có thể xuất hiện dưới hình thức tiến trình hướng tới mục tiêu cao hoặc thấp. Marty Schmidt (2004) cho rằng những lợi ích kinh doanh có giá trị tích cực cho doanh nghiệp như sự hài lòng của khách hàng, cải thiện hình ảnh thương hiệu, cải tiến chất lượng sản phẩm dịch vụ, giảm rủi ro, tăng doanh thu, lợi nhuận, giảm chi phí. Lợi ích kinh doanh bao gồm lợi ích tài chính và lợi ích phi tài chính.

Mục tiêu lớn nhất của các doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận. Bất kỳ kết quả  của một hành động được cho là góp phần vào mục tiêu lợi nhuận (như tăng doanh thu bán hàng hoặc tiết kiệm chi phí) đều có thể được xem như là một lợi ích kinh doanh. Lợi ích kinh doanh có thể dễ dàng được chấp nhận là hợp pháp nếu đáp ứng các tiêu chí: Lợi ích có khả năng, lợi ích hữu hình và đo lường được, lợi ích góp phần hướng tới đạt mục tiêu kinh doanh. Những lợi ích kinh doanh được đề xuất trong các nghiên cứu bao gồm: hình ảnh và uy tín được nâng cao; tăng doanh số bán hàng và lòng trung thành của khách hàng; tăng khả năng thu hút, động viên và giữ lại nhân viên; tăng cường tiếp cận vốn và các nhà đầu tư, giảm chi phí vận hành…

Trong phạm vi lý thuyết các bên liên quan, những lợi ích kinh doanh được xem xét bao gồm: danh tiếng của doanh nghiệp; thu hút, giữ chân khách hàng; thu hút, giữ chân nhân viên và tiếp cận vốn đó là những lợi ích phi tài (lợi ích kinh doanh).

Vì sao lại là lợi ích kinh doanh vì không phải tất cả các mục tiêu kinh doanh được xác định trước về mặt tài chính, Marty Schmidt (2004). Người kinh doanh thường xác định các mục tiêu cho sự hài lòng của khách hàng hoặc hình ảnh của công ty hoặc một số chỉ tiêu khác. Tuy nhiên, đa số không công nhận sự đóng góp của các chỉ tiêu lợi ích này và cho rằng không xứng đáng được xem xét nghiêm túc. Những người khác có thể cho rằng những lợi ích đó rất quan trọng, nhưng vẫn không biết làm thế nào để đo lường và đánh giá chúng. Hoặc, họ có thể không biết làm thế nào để so sánh chúng với lợi ích tài chính. Do đó, lợi ích phi tài chính chỉ nhận được sự đánh giá tạm thời trong kết quả kinh doanh và các phân tích chi phí và lợi ích khác.

Song, nhiều nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đã sử dụng các chỉ tiêu lợi ích kinh doanh để nghiên cứu trong những nghiên cứu liên quan đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp với các bên liên quan. Tổng kết các kết quả nghiên cứu đã đánh giá ở phần trên, các khái niệm liên quan đến lợi ích kinh doanh (phi tài chính) được trình bày như sau

  • Danh tiếng của doanh nghiệp

Deephouse (2000) định nghĩa danh tiếng là sự đánh giá về một doanh nghiệp của các bên liên quan theo sự ảnh hưởng, sự quí trọng và kiến thức của họ. Danh tiếng là một nguồn lực dẫn đến lợi thế cạnh tranh, làm tín hiệu cho các bên liên quan về sự hấp dẫn của doanh nghiệp, từ đó họ có thể sẵn sàng ký hợp đồng với doanh nghiệp.

Nhiều doanh nghiệp lớn, đặc biệt là trong lĩnh vực tiêu dùng, thành công lâu dài của họ phụ thuộc nhiều vào danh tiếng (Murray, 2003). Theo Curran (2005), trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là một thành phần quan trọng của danh tiếng một doanh nghiệp. Một doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có  thể được hưởng lợi từ việc nâng cao danh tiếng với công chúng, cũng như trong cộng đồng doanh nghiệp, tăng khả năng của doanh nghiệp trong việc thu hút vốn và các đối tác kinh doanh (Schiebel và Pochtrager, 2003). Nghiên cứu của Pfau và cộng sự  (2008) cũng cho thấy rằng các chiến dịch trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tăng cường nhận thức về hình ảnh và danh tiếng của công ty. Mittal và cộng sự (2008) trích dẫn nâng cao danh tiếng như là một động lực thúc đẩy chính đằng sau trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

Neville và cộng sự (2005) xác định danh tiếng là một biến trung gian giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động. Danh tiếng rất quan trọng cho sự thành công của doanh nghiệp (Roberts và cộng sự, 2002; Jayne và Skerratt, 2003), và là một tài sản có giá trị lớn (Caminiti và Reese, 1992), đặc biệt là trong thị trường cạnh tranh ngày nay (Martin, 2009). Quan điểm dựa trên nguồn lực của doanh nghiệp cho rằng danh tiếng là một nguồn lực dẫn đến một lợi thế cạnh tranh, thông báo đến các bên liên quan về sự hấp dẫn của doanh nghiệp, từ đó các bên có liên quan sẵn sàng ký hợp đồng với doanh nghiệp (Deephouse, 2000). Brammer và Millington (2005) báo cáo một mối quan hệ tích cực giữa danh tiếng một doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động. Theo Roberts (2003), danh tiếng tốt nâng cao giá trị của tất cả mọi thứ một tổ chức làm và phát ngôn. Một danh tiếng xấu sẽ giảm giá trị của sản phẩm và dịch vụ.

Bằng cách thông báo cho người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm, danh tiếng có thể cho phép các doanh nghiệp bán sản phẩm với giá cao (Fombrun và Shanley, 1990). Ngoài ra, cũng có lập luận cho rằng các nhà cung cấp ít quan tâm đến các mối nguy hiểm khi ký hợp đồng với các doanh nghiệp có danh tiếng cao (Roberts và Dowling, 2002). Danh tiếng giúp thu hút người lao động (Schnietz và Epstein, 2005) và có thể nâng cao khả năng tiếp cận thị trường vốn và thu hút các nhà đầu tư (Fombrum và Shanley, 1990; Schnietz và Epstein, 2005). Trong một thế giới đầy những sản phẩm tiêu dùng, có thể thấy rằng danh tiếng có được do hành vi có trách nhiệm với xã hội có thể là một cách để phân biệt một doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh (McWilliams, 2001). Tương tự, Roberts và Dowling (2002); Fombrun và cộng sự (2000); Porter và Van Der Linde (1995) và Spicer (1978), cho rằng các sáng kiến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có thể dẫn đến những lợi thế về danh tiếng như cải thiện sự tín nhiệm đầu tư, cơ hội thị trường mới và phản ứng tích cực của thị trường vốn sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức (Uadiale và Fagbemi, 2012).

  • Thu hút, giữ chân khách hàng

Khách hàng hay người tiêu dùng đại diện cho một trong những nhóm quan trọng nhất của các bên liên quan (Rugimbana và cộng sự, 2008). Sự thu hút khách hàng và lòng trung thành của họ là nền tảng cho bất kỳ doanh nghiệp nào. Pivato và cộng sự (2008) nhận thấy người tiêu dùng có nhận thức về một doanh nghiệp có liên quan đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và tin tưởng cao hơn đối với doanh nghiệp đó và các sản phẩm của nó. Điều này dẫn đến doanh thu và lòng trung thành của khách hàng tăng lên (Sweeney, 2009). Cùng với các yếu tố truyền thống quan trọng đối với người tiêu dùng như chất lượng, giá trị đồng tiền và hiệu quả hoạt động, người tiêu dùng đang ngày càng quan tâm đến hành vi xã hội của một doanh nghiệp (Dawkins và Lewis, 2003 và Knowles và Hill, 2001; Schiebel và Pochtrager, 2003; Hopkins, 2003; Vogel, 2005). Thật vậy, khách hàng ngày nay không chỉ quan tâm đến chất lượng sản phẩm họ tiêu dùng mà họ còn quan tâm đến quá trình tạo ra chúng, đặc biệt là sự tác động đến môi trường, chính sách nhân viên và khách hàng,… do đó, một doanh nghiệp thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có thể hấp dẫn người tiêu dùng, hơn nữa còn giúp doanh nghiệp tận dụng được kênh truyền miệng một cách tích cực. Đồng thời, việc thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tạo niềm tin vững chắc và sự yêu quý nơi người tiêu dùng về cả sản phẩm và doanh nghiệp sản xuất ra chúng, vì vậy lòng trung thành của họ đối với doanh nghiệp sẽ được nâng cao.

Người tiêu dùng cũng đang trừng phạt các doanh nghiệp vô trách nhiệm bằng cách tẩy chay các sản phẩm của họ hoặc đòi hỏi các sản phẩm được bán với chi phí thấp hơn (Creyer và Ross, 1997). Environics International Poll (2002) báo cáo rằng 1/3 người tiêu dùng tích cực khen thưởng và trừng phạt các doanh nghiệp trên cơ sở trách nhiệm xã hội. Ruf và cộng sự (1998) tìm thấy một mối quan hệ tích cực giữa sự thay đổi trong trách nhiệm xã hội và doanh số bán hàng. Một nghiên cứu Tây Ban Nha bởi Prado-Lorenzo và cộng sự (2008) chỉ ra rằng các doanh nghiệp có tiết lộ một khối lượng thông tin lớn về trách nhiệm xã hội có doanh số bán hàng tăng trưởng tốt hơn so với những tổ chức có không tiết lộ thông tin công khai.

Becker-Olsen và cộng sự (2006) thấy rằng các tiêu chí nhất định phải được thực hiện để ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng; Thứ nhất, người tiêu dùng phải tin doanh nghiệp đang thúc đẩy thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp vì lợi ích của xã hội và không chỉ đơn thuần là để nâng cao lợi nhuận, tức là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không nên được xem như là một công cụ để đánh bóng thương hiệu; Thứ hai, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp phải được xem như là công cụ chủ động và cuối cùng, là phải có một liên kết hợp lý giữa các doanh nghiệp và các tổ chức từ thiện mà họ đang hỗ trợ.

  • Thu hút, giữ chân nhân viên

Quan điểm doanh nghiệp dựa vào nguồn nhân lực cho thấy rằng lợi thế cạnh tranh bền vững được dựa trên sự tích lũy, thu hút và duy trì các nguồn nhân lực khó thay thế và khó bắt chước (Prahalad và Hamel, 1990), nhân viên được xem như một tài sản thiết yếu trong bất kỳ doanh nghiệp nào. Backhaus và cộng sự (2002) chứng minh rằng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp làm tăng tính hấp dẫn của một doanh nghiệp với các nhân viên tiềm năng, các lĩnh vực có ảnh hưởng nhất của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm các vấn đề môi trường, quan hệ cộng đồng và chính sách đa dạng. Koh và Boo (2001) đã báo cáo một mối quan hệ tích cực giữa đạo đức tổ chức và sự hài lòng của nhân viên. Hơn nữa, những nhân viên gắn bó chặt chẽ với tổ chức thể hiện thái độ ủng hộ tích cực đối với tổ chức và có động lực làm việc nhiều hơn và ở lại lâu hơn với tổ chức. Mittal và cộng sự (2008) cho rằng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có một tác động tích cực đến năng suất của nhân viên. Tương tự, Chatman (1991) cho thấy những nhân viên mới có những tiêu chuẩn phù hợp nhất với các giá trị doanh nghiệp cảm thấy hài lòng, có ý định và đã thực sự ở lại với doanh nghiệp lâu dài.

Khả năng thu hút và giữ nhân tài của doanh nghiệp là rất quan trọng  (Hopkins, 2003). Turban và Grenning (2000) sau đó đã tiến hành một nghiên cứu tương tự và một lần nữa tìm thấy các doanh nghiệp có xếp hạng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cao được coi là sử dụng lao động hấp dẫn hơn so với các doanh nghiệp có xếp hạng thấp. Đồng thời các tác giả trên cũng ghi nhận rằng trách nhiệm xã hội  của doanh nghiệp có thể đặc biệt hữu ích trong việc thu hút lao động chất lượng cao – những người có yêu cầu lựa chọn việc làm cao. Smith (2004) lập luận rằng giá trị xã hội và môi trường của doanh nghiệp đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp mới.

Một doanh nghiệp có danh tiếng bị hư hại có thể phải đối mặt tiêu cực đến vấn đề tuyển dụng. Khi một doanh nghiệp dầu mỏ lớn bị thiệt hại đến danh tiếng của mình, doanh nghiệp cho biết sinh viên trẻ đã không còn bị thu hút đến doanh nghiệp (Roberts và Dowling, 2002). Một nghiên cứu của McKinsey (1991), cho thấy 68% trong số 403 giám đốc điều hành cấp cao trên toàn thế giới đồng ý rằng các tổ chức với các hành động gây hư hại đến môi trường sẽ ngày càng khó khăn khi tuyển dụng và giữ lại nhân viên có năng lực cao (Dechant và Altman, 1994). Pharoah (2003) báo cáo một nghiên cứu của hơn 800 CEO và các nhà kinh doanh cấp cao từ 7 quốc gia trên khắp châu Âu và Bắc Mỹ phát hiện ra rằng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp giúp thực hiện mục tiêu kinh doanh quan trọng là “tăng doanh số bán hàng”, và quan trọng thứ hai ” tuyển dụng và giữ chân nhân viên”.

Backhaus và cộng sự (2002) cho rằng người lao động yêu cầu thông tin đầy đủ và chính xác về nhà tuyển dụng trước khi chấp nhận một hợp đồng lao động, trong trường hợp không có sẵn thông tin này, người lao động sẽ nhìn vào các đặc điểm của các doanh nghiệp và sự gia tăng những nỗ lực của họ để quyết định hợp lý.

Theo Hopkins (2003), một trong những lợi ích vô hình rõ ràng nhất của việc tham gia trong trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là tăng tinh thần, lòng trung thành và sự hài lòng của nhân viên. Peterson (2004), Schiebel và Pochtrager (2003) lập luận rằng có một mối quan hệ tích cực giữa nhận thức của nhân viên về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp của một doanh nghiệp trên nhân viên và cam kết của họ đối với tổ chức đó.

  • Tiếp cận vốn

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đang là một yếu tố quan trọng trong việc giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn, đặc biệt trong thời kỳ khó khăn của nền kinh tế. Bởi khi trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cam kết có trách nhiệm với xã hội, nhà đầu tư hay chủ nợ cũng có các lợi ích liên quan, hơn nữa danh tiếng của  doanh nghiệp cũng được tạo dựng trong cộng đồng, nhờ đó tạo được thiện cảm và lòng tin ở các nhà đầu tư, tổ chức cho vay, giúp việc tiếp cận vốn từ các đối tượng này sẽ dễ dàng hơn. Waddock và Graves (1997) cũng cho rằng các nhà đầu tư nghiêng về phía doanh nghiệp có hiệu quả xã hội cao hơn. Tài chính dài hạn (nợ và vốn chủ sở hữu) cung cấp cho các doanh nghiệp các quỹ cần thiết để hoạt động và phát triển. Như vậy, khả năng tiếp cận vốn quan trọng đối với tất cả các tổ chức và có ảnh hưởng lớn đến  sự thành công của tổ chức (Sweeney, 2009).

Roberts và cộng sự (2002) đã cho rằng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là chìa khóa để tiếp cận nguồn vốn. Ngày càng có nhiều nhà đầu tư đang lựa chọn để đầu tư kinh phí của họ trong các tổ chức thể hiện tốt trách nhiệm xã hội (Baron, 2008). Trong giai đoạn hiện nay, nếu một doanh nghiệp nhấn mạnh hiệu quả của nó trong hoạt động trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp sẽ hấp dẫn đối với các nhà đầu tư hơn (Roberts và cộng sự , 2002).