Khái niệm thị trường liên quan trong luật cạnh tranh

 

 1 . Ý nghĩa của thị trường liên quan

Việc xác định được thị trường liên quan là để có thể đánh giá được sức mạnh thị trường của một doanh nghiệp, là để xem mức độ những sản phẩm và dịch vụ thay thế lẫn nhau tạo sức ép cạnh tranh lên các nhà cung cấp những sản phẩm và dịch vụ tương ứng. Ví dụ, nếu công ty A đang bị nghi ngờ là nhà cung cấp duy nhất hoa lan vàng, đang thực hiện sức mạnh thị trường và định giá độc quyền thì câu hỏi đầu tiên phải được đặt ra là liệu sản phẩm thay thế của  hoa lan vàng mà người tiêu dùng có thể dễ dàng chuyển qua sử dụng là sản phẩm nào. Nếu có, và sau đó nếu A tăng giá bán, A sẽ mất khách hàng. Việc người tiêu dùng có thể mua hoa lan xanh và hoa lan nâu (sản phẩm thay thế hoàn hảo từ những công ty khác) làm cho việc tăng giá hoa lan vàng sẽ thúc đẩy khách hàng chọn mua hoa lan xanh và hoa lan nâu (rẻ hơn). Khi đó, nói A có “độc quyền” trong việc bán hoa lan vàng là vô nghĩa theo khía cạnh kinh tế. Tương tự như vậy, giả sử A là nhà cung cấp duy nhất tất cả màu độc của hoa lan. A vẫn sẽ không thể tăng giá bán mà không bị mất khách hàng nếu địa lan – được cung cấp bởi các công ty khác, là sản phẩm thay thế hoàn hảo cho lan thường. Trong việc xác định thị trường, thường khó xác định đâu là những sản phẩm và dịch vụ nằm trong cùng một thị trường. Ví dụ, hiển nhiên là phân bón và áo sơ mi không cùng một thị trường, nhưng còn cà phê và trà; rượu vodka và whisky, chuối và táo thì sao?  Sau đây chúng ta sẽ lần lượt xem xét cách thức xác định thị trường liên quan của khuôn khổ pháp lý hiện hành.

Tầm quan trọng của việc xác định thị trường liên quan đã được thừa nhận rộng rãi. Việc xác định được thị trường liên quan làm cơ sở quan trọng để các cơ quan thực thi luật kết luận một hành vi cụ thể là có vi phạm Luật Cạnh tranh hay không. Nói cách khác, xác định thị trường liên quan là công đoạn đầu tiên trong chuỗi tác nghiệp thực thi Luật Cạnh tranh liên quan đến các hành vi hạn chế cạnh tranh.

Luật Cạnh tranh đã đưa ra khái niệm về thị trường liên quan như sau:

“Thị trường liên quan bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan.

Thị trường sản phẩm liên quan là thị trường của những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả.

                Thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý cụ thể trong đó có những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự  và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận.

 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh (Nghị định số 116/2005/NĐ-CP) đã quy định cụ thể hơn cách tiếp cận để xác định thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan.

 2 . Sự thay thế cung cầu

Việc xác định thị trường liên quan phụ thuộc vào những sản phẩm nào trong thị trường nào có thể thay thế cho nhau. Trong trường hợp có 2  sản phẩm thay thế hoàn hảo cho nhau, nhà sản xuất  sẽ không có sức mạnh thị trường, sẽ không khai thác tính độc quyền bằng việc tăng giá sản phẩm vì người tiêu dùng sẽ chuyển sang dùng sản phẩm thay thế. Có hai khía cạnh của tính thay thế cho nhau. Thay thế về cầu liên quan đến khả năng người sử dụng sản phẩm chuyển sang sử dụng sản phẩm thay thế. Thay thế về cung liên quan đến khả năng người cung cấp sản phẩm tương tự sản xuất ra sản phẩm. Cạnh tranh tiềm năng cũng là nhân tố quan trọng cần được tính đến. Một doanh nghiệp trên thị trường sẽ không thể hành động tùy tiện nếu các đối thủ cạnh tranh tiềm năng có thể dễ dàng tham gia thị trường. Tuy nhiên, cạnh tranh tiềm năng thường được xem xét không phải ở giai đoạn định nghĩa thị trường mà ở giai đoạn sau, cụ thể là khi xem xét vị trí của doanh nghiệp trên thị trường.

Khi xác định thị trường liên quan, cần phải xem xét cả hai khía cạnh thay thế về cung và thay thế về cầu mặc dù trên thực tế các cơ quan cạnh tranh ở nhiều nước chủ yếu tập trung đánh giá sự thay thế về mặt cầu.

Xét từ góc độ kinh tế, đối với việc xác định thị trường liên quan, sự thay thế về cầu tạo ra áp lực nhanh và hiệu quả nhất đối với các nhà cung cấp của một sản phẩm nhất định, nhất là trong việc định giá sản phẩm. Một công ty hoặc một nhóm các công ty không thể có bất kỳ một tác động đáng kể nào đối với những điều kiện hiện chiếm ưu thế của việc bán hàng (như là tác động về giá cả) nếu khách hàng tiêu dùng của họ dễ dàng chuyển sang sử dụng các sản phẩm thay thế hoặc  chuyển sang mua sản phẩm của các nhà cung cấp khác. Như vậy ở đây việc xác định thị trường liên quan là việc nhận dạng nguồn cung cấp có thể thay thế hiệu quả đối với khách hàng của công ty cả về mặt sản phẩm/dịch vụ và cả về vị trí địa lý của nhà cung cấp.

Sự thay thế về nguồn cung nói chung ít tạo ra sức ép trực tiếp như từ sự thay thế về cầu và trong bất kỳ trường hợp nào cần phân tích thêm những nhân tố bổ sung khác.

 3 . Sự thay thế về cầu

                a. Những cách  xác định thay thế về cầu

Thay thế về cầu là việc xác định đâu là sản phẩm mà người tiêu dùng cân nhắc làm sản phẩm thay thế. Trừ phi sản phẩm là hoàn toàn đồng nhất, còn không sẽ không được coi là sản phẩm thay thế hòan hảo. Tuy nhiên, hầu hết mọi sản phẩm đều có sản phẩm thay thế cùng loại. Việc xác định sản phẩm thay thế phụ thuộc vào một số nhân tố: việc người tiêu dùng có thể dễ dàng chuyển sang dùng sản phẩm tương tự; một thời gian để người tiêu dùng thích ứng; sự giống nhau về chất lượng hoặc giá cả không; sản phẩm thay thế có sẵn (dễ mua).

Vấn đề sẽ trở nên phức tạp trong một số trường hợp sau: chỉ có một nhóm người tiêu dùng chuyển sang sử dụng sản phẩm thay thế; hoặc có sản phẩm thay thế nhưng không thay thế cho tất cả công dụng của một sản phẩm. Như đã đề cập ở phần trên, tính hoán đổi được đánh giá dựa trên việc đo “co dãn chéo của nhu cầu”.

Cách thức mà cơ quan thực thi Luật Cạnh tranh Việt Nam áp dụng để đo sự co dãn chéo của cầu là căn cứ vào kết quả điều tra thị trường mà Ủy ban châu Âu gọi là SSNIP test (tăng giá nhẹ nhưng lâu dài). Phương pháp này cũng được biết đến như một phương pháp xác định độc quyền dựa trên giả thiết mà các cơ quan cạnh tranh của Mỹ, Canađa, New Zealand, Australia và Anh áp dụng. Phương pháp này được đánh giá cao vì đã phản ánh những phân tích kinh tế đương thời.

Cách thức kiểm tra được quy định tại khoản 5(c) của Điều 4 Nghị định số 116/2005/ NĐ-CP. Cụ thể là giả sử có một mức tăng giá nhẹ (hơn 10%) của một sản phẩm so với giá bán lẻ hiện tại và thời hạn tăng giá là 6 tháng liên tiếp (không phải là tăng giá quá độ). Sau đó, sẽ xem xét câu hỏi liệu việc tăng giá này có khiến cho khách hàng đang dùng sản phẩm đó chuyển sang dùng sản phẩm khác không, hoặc khách hàng có mua sản phẩm đó từ các nhà cung cấp ở những khu vực khác không. Vì là giả định nên câu trả lời sẽ lấy từ 1000 người theo mẫu thống kê ngẫu nhiên từ người tiêu dùng trên thị trường thực tế. Nếu câu trả lời là có thì các sản phẩm và khu vực thêm vào nằm trong phạm vi của một thị trường liên quan.

Cách phân tích tương tự có thể được áp dụng trong những trường hợp liên quan đến tập trung sức mua, nơi mà điểm bắt đầu là nhà cung cấp và giá thử nghiệm đóng vai trò nhận dạng những kênh phân phối thay thế hoặc các đại lý cho các sản phẩm của nhà cung cấp.

Ví dụ như việc sáp nhập các hãng nước ngọt. Vấn đề cần xem xét sẽ là việc xác định liệu những mùi vị khác nhau của nước ngọt có thuộc cùng một thị trường không. Trên thực tế, câu hỏi then chốt là liệu người tiêu dùng đang sử dụng hương vị A có chuyển sang hương vị khác không khi phải chịu sự tăng giá lâu dài 10% của đồ uống A. Nếu số người tiêu dùng chuyển sang hương vị B đạt tới mức độ đủ để việc tăng giá A không mang lại lợi nhuận do mất doanh thu, lúc đó thị trường sẽ bao gồm ít nhất hương vị A và B. Quá trình sẽ phải được mở rộng với những hương vị đang được sử dụng khác cho đến khi tổng hợp các sản phẩm tăng giá không dẫn đến sự thay thế đủ về nhu cầu. Nói chung, giá xem xét sẽ là giá thịnh hành trên thị trường. Điều này không áp dụng trong những trường hợp mà giá thịnh hành được xác định khi thiếu cạnh tranh đầy đủ. Cụ thể như đối với việc điều tra lạm dụng vị trí thống lĩnh, giá thịnh hành đã tăng đáng kể trong thực tế sẽ được xem xét.

SSNIP test là hợp lý và đơn giản. Nhiều nhà kinh tế đã đồng tình và đánh giá cao việc sử dụng phương pháp này để xác định thị trường liên quan. W. Bishop, một nhà kinh tế của châu Âu đã cho rằng thành công của SSNIP không phải là ngẫu nhiên. Câu hỏi trọng tâm mà phương pháp này nêu ra là tại sao chúng ta lại quan tâm trước tiên về định nghĩa thị trường. Chúng tôi chỉ có thể trả lời câu hỏi liệu 70% cổ phần của một “thị trường” có tạo cho doanh nghiệp sức mạnh thị trường không nếu “thị trường” đó là một thị trường theo ý nghĩa kinh tế. Câu hỏi mấu chốt ở đây là sự thay thế các sản phẩm hoặc các khu vực địa lý có là hạn chế quan trọng hay chỉ là hạn chế bình thường đối với hành vi của các doanh nghiệp kinh doanh. Chúng tôi muốn thị trường bao gồm toàn bộ sản phẩm thay thế cho một số lượng đáng kể người tiêu dùng và ngoại trừ khỏi thị trường tất cả những thứ không phải sản phẩm thay thế thực tế. SSNIP test là công cụ hữu ích để làm việc này.

 Tuy nhiên, trên thực tế, làm thế nào để xác định phản ứng của khách hàng với việc tăng giá giả định này?

Ủy ban châu Âu công nhận rằng những bằng chứng liên quan và thuyết phục sẽ phụ thuộc vào công nghệ, sản phẩm, hoặc dịch vụ cạnh tranh, cũng như cho rằng họ có thể thiết lập thị trường tiềm năng trên cơ sở thông tin ban đầu có giá trị hoặc do các công ty liên quan đệ trình. Thông thường, vấn đề được rút lại với câu hỏi đơn giản “liệu sản phẩm A có nằm trong cùng thị trường với sản phẩm B không?”. Đến đây, vụ việc được xác định mà không cần định nghĩa chính xác về thị trường. Tuy nhiên, đối với những trường hợp đòi hỏi phải có định nghĩa chính xác hơn về thị trường, Ủy ban châu Âu có thể liên lạc với những khách hàng và công ty chính trong ngành, hiệp hội chuyên nghiệp và những công ty ở thị trường sơ cấp để xác minh chính xác về quan điểm của mình. Ủy ban châu Âu có thể chuyển yêu cầu cung cấp thông tin bằng văn bản tới các doanh nghiệp trong thị trường (hỏi ý kiến về phản ứng với việc tăng giá giả định và trên ranh giới thị trường), tham gia thảo luận với họ, thậm chí bố trí làm việc hoặc thanh tra theo gợi ý của các bên, khách hàng hoặc đối thủ cạnh tranh. Đối với những thị trường khách hàng cảm thấy băn khoăn, việc đưa ra câu hỏi giả định được thừa nhận có thể dẫn đến nhiều kết quả khác nhau và những người được hỏi có thể trả lời theo cách khác biệt so với thực tiễn. Nghiên cứu thái độ khách hàng khiến các nhà kinh tế ủng hộ “phân tích kết hợp” do đó “trao đổi” mà người tiêu dùng tiến hành khi đối mặt với những sản phẩm khác nhau (ví dụ giữa giá cả và chất lượng, lòng tin và xu hướng) có thể được đưa vào trong phân tích.

Kinh nghiệp của Ủy ban châu Âu cũng cho thấy họ sẽ xem xét đến khía cạnh của những cuộc kiểm tra định lượng được tiến hành bởi các nhà kinh tế để phân định thị trường. Những cuộc kiểm tra này bao gồm ước tính độ co dãn, kiểm tra dựa trên sự đồng nhất của dịch chuyển giá qua thời gian (phân tích tương quan giá), tính toán nguyên nhân, và phân tích hội tụ giá. Cụ thể, Ủy ban châu Âu sẽ xem xét những bằng chứng thay thế có thể áp dụng được trong quá khứ từ kết quả của việc phân tích cú sốc thực tế, bao gồm việc tham gia thị trường của các đối thủ cạnh tranh hoặc giới thiệu sản phẩm mới. Nói cách khác, Ủy ban châu Âu ngụ ý rằng “nguồn thông tin này thông thường sẽ giữ vai trò cơ bản cho định nghĩa thị trường”. Bằng chứng về kết quả của việc giới thiệu sản phẩm mới trên doanh thu của những sản phẩm tồn cũng được cho là hữu ích.

Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của cơ quan cạnh tranh Vương quốc Anh (OFT) còn một số vấn đề tồn tại với việc kiểm tra này.

Nhìn chung, cần xem xét thận trọng với những cuộc kiểm tra chỉ dựa vào chiều hướng giá cả, bởi vì chúng không đánh giá được liệu khi có doanh nghiệp tham gia thị trường, giá có được tăng lên cùng lợi nhuận không. Tuy nhiên, những dữ liệu ít ỏi thường cản trở nhà phân tích trong việc đánh giá đâu là mô hình cầu thích hợp hơn, cốt để thị trường chống độc quyền được xác định trên cơ sở chỉ bản thân kiểm tra giá.

Bishop và Walker thừa nhận một vài yếu điểm của phân tích tương quan giá, nhưng vẫn dự đoán cách phân tích này có thể cung cấp thông tin hữu ích hỗ trợ định nghĩa thị trường. Một trong những điểm đáng chú ý là nó có “yêu cầu thông tin tương đối thấp và dễ sử dụng”. Vấn đề này đặc biệt quan trọng, như trong các cuộc điều tra liên doanh, khi cơ quan cạnh tranh không còn nhiều thời gian để đưa ra phán quyết. Có sự nhất trí là tương quan giá có thể nhận dạng được thị trường kinh tế nhưng không phải lúc nào cũng xác định được thị trường chống độc quyền, tức là không trả lời câu hỏi “có phải thị trường này có độc quyền không?”. Tuy nhiên, như kinh nghiệm của OFT kết luận, mặc dù phương pháp định lượng không phải “viên đạn thần kỳ” nhưng khi được sử dụng một cách chính xác và chặt chẽ, chúng có thể là những công cụ rất hữu ích.  Ủy ban châu Âu sẽ không xem xét dựa trên dấu hiệu bên ngoài hai thay thế về cầu là thuộc cùng một thị trường nếu Ủy ban châu Âu thấy rằng có những rào cản cản trở khách hàng thay đổi sang sản phẩm thay thế. Trong một hướng dẫn của mình, Ủy ban châu Âu đã nói về Những rào cản và chi phí gắn  với việc thay đổi nhu cầu chuyển sang sử dụng sản phẩm thay thế tiềm năng. Chi phí chuyển đổi sản phẩm (switching costs) là giá mà người tiêu dùng trả khi chuyển sang sử dụng sản phẩm khác. Chúng không nhất thiết phải liên quan đến tài chính, nhưng lại chứa đựng nhiều bất lợi và phiền phức. Chi phí chuyển đổi sản phẩm cũng có thể là rào cản gia nhập thị trường, có thể được tạo ra hoặc tăng lên bởi các công ty lớn như một thủ đoạn ngăn chặn. Sẽ là không thể để đưa ra một danh sách trọn vẹn về chi phí chuyển đổi sản phẩm và dự đoán về mọi rào cản có thể đối với việc chuyển đổi sản phẩm. Những rào cản này có nguồn gốc khác nhau và hình thức khác nhau như can thiếp quốc gia, sức ép phát sinh từ thị trường thứ cấp, nhu cầu đầu tư vốn đặc biệt hoặc chịu tổn thất sản phẩm đầu ra để chuyển sang sử dụng đầu vào thay thế, vị trí của khách hàng, đầu tư đặc biệt trong quá trình sản xuất, nghi ngờ về chất lượng và uy tín của các nhà cung cấp không có danh tiếng, và nhiều nhân tố khác.

                b. Đặc tính và mục đích sử dụng

Đặc tính và mục đích sử dụng đã được diễn giải thêm trong Nghị định số 116/2005/ NĐ-CP.

Việc xác định sự tương tự về đặc tính của sản phẩm đòi hỏi phải phân tích các yếu tố trong cấu tạo vật chất của sản phẩm như các yếu tố lý hoá, các tác dụng phụ đối với người sử dụng(Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP.)… Bởi lẽ các sản phẩm không tương đồng nhau về những yếu tố trên thì không thể thay thế cho nhau, ví dụ các loại Vitamin không thể thay thế cho nhau bởi các thành phần dinh dưỡng, đặc tính vật lý, nguyên lý chuyển hoá chất khi sử dụng… của chúng không giống nhau. Việc xác định sự tương đồng về các yếu tố vật chất lý hoá của sản phẩm là khâu quan trọng hàng đầu trong việc điều tra thị trường liên quan trong trường hợp cần thiết làm cơ sở để cơ quan điều tra khoanh vùng các sản phẩm có khả năng nằm trong một vùng thị trường và thực hiện các bước điều tra tiếp theo. Theo Nghị định số 116/2005/NĐ-CP “hàng hóa, dịch vụ được coi là có thể thay thế cho nhau về đặc tính nếu hàng hoá, dịch vụ đó có nhiều tính chất về vật lý,hoá học, tính năng kỹ thuật, tác dụng phụ đối với người sử dụng và khả năng hấp thụ giống nhau”(Điểm a khoản 5 Điều 4 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP.).

Các sản phẩm được coi là có thể thay thế cho nhau về mục đích sử dụng, về đặc tính nếu như chúng có mục đích sử dụng, có nhiều tính chất vật lý, tính chất hoá học, tác động phụ với người sử dụng giống nhau(Khoản 1, 2 Điều 15 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP.). Nói cách khác, các sản phẩm được coi là cạnh tranh với nhau khi tính chất của nó giống nhau. Dưới góc độ khoa học, mục đích sử dụng là những yếu tố cơ bản được nhìn nhận từ nhu cầu tiêu dùng của người sử dụng. Các sản phẩm đáp ứng cho cùng một nhu cầu sử dụng được coi là thay thế cho nhau về mục đích sử dụng. Khi phân tích dấu hiệu này, cơ quan có thẩm quyền cần phải nhìn nhận hiện tượng dưới góc độ của người sử dụng hàng hoá, dịch vụ thay vì với vai trò của cơ quan quản lý nhà nước. Mục đích sử dụng của hàng hóa dịch vụ được xác định căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu nhất của hàng hoá, dịch vụ đó(Khoản 3 Điều 4 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP.). Vì thế, nếu có nhiều mục đích sử dụng, các sản phẩm thay thế cho nhau khi mục đích sử dụng chủ yếu giống nhau.

Trong thực tế, việc xác định khả năng thay thế về tính chất của các sản phẩm không đơn giản. có những sản phẩm về lý thuyết có khả năng thay thế cho nhau nhưng nếu thực tế chúng lại đáp ứng nhu cầu của những đối tượng khách hàng khác biệt về sức mua, về những ưu tiên manng tính định tính rõ nét (như dịch vụ ăn uống của các nhà hàng và của các căngtin trường học không thay thế cho nhau bởi căngtin trường học còn đáp ứng thêm nhu cầu giám sát học sinh) hoặc khác biệt nhau vì được áp dụng các phương thức kinh doanh khác nhau thì vẫn không thể kết luận rằng chúng có khả năng thay thế cho nhau(Dominique Brault, Chính sách và thực tiễn pháp luật cạnh tranh của Cộng hòa Pháp (Hà Nội: Tập 2, NXB chính trị quốc gia, 2005), tr 222.). Vì thế, cơ quan điều tra phải sử dụng các công cụ kỹ thuật  z- kinh tế và kinh nghiệm thực tiễn để xác định các yếu tố cấu thành nên mục đích sử dụng và đặc tính của sản phẩm.

Việc phân tích đặc tính và mục đích sử dụng sản phẩm cho phép cơ quan cạnh tranh, ở giai đoạn điều tra đầu tiên, hạn chế phạm vi điều tra những sản phẩm có thể thay thế. Tuy nhiên, đặc tính và mục đích sử dụng của sản phẩm không đủ để nhận dạng sản phẩm thay thế về nhu cầu. Tính hoán đổi chức năng hoặc bản thân sự đồng nhất của đặc tính có thể không cung cấp đầy đủ tiêu chí bởi vì phản ứng của khách hàng với sự thay đổi tương đối về giá có thể được quyết định bởi những nhân tố khác. Ví dụ, có sức ép cạnh tranh khác nhau trong thị trường thiết bị, phụ tùng nguyên bản đối với phụ tùng ô tô và linh kiện dữ trự, do đó dẫn đến sự mô tả riêng biệt của hai thị trường liên quan. Ngược lại, sự khác nhau trong bản thân đặc tính sản phẩm là không đủ để loại trừ sự thay thế về cầu, khi mà điều này sẽ phụ thuộc vào mức độ đánh giá đặc tính khác nhau của khách hàng.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, việc kiểm tra đặc tính của sản phẩm là yếu tố quyết định để xác định thị trường liên quan. Ví dụ trong một vụ việc cạnh tranh ở châu Âu (United Brands), Tòa án đã dựa vào đặc tính của chuối để xác định chuối nằm trong thị trường riêng biệt so với các hoa quả khác. Ở đây, việc xem xét mục đích của sản phẩm là quan trọng vì nó giúp xác định liệu có sản phẩm thay thế không. Ở một vụ việc khác (Van den Bergh Foods Ltd)  Tổng cục Cạnh tranh của châu Âu đã quyết địnhloại kem mua theo từng khẩu phần lẻ tại các cửa hàng để tiêu thu ngay và loại kem mua nhiều gói để dự trữ và tiêu thụ tại nhà nằm trong hai thị trường riêng biệt. Điều này được Tổng cục Cạnh tranh châu Âu giải thích là vì “sự khác biệt trên cơ sở mục đích sử dụng của khách hàng trong việc mua kem đã xác định sự khác nhau trong đặc tính về giá giữa sản phẩm ăn ngay và sản phẩm tiêu thụ tại nhà”. Tương tự, trong quyết định năm 2001 về vụ Michelin (Michelin II), Tổng cục Cạnh tranh châu Âu quyết định mà không sử dụng SSNIP test rằng thị trường lốp thay mới cho xe tải và xe bus là riêng biệt. Cơ quan này đã xem xét “phân tích những đặc tính riêng biệt và công dụng của lốp xe bởi khách hàng cuối cùng” dựa trên các cuộc khảo sát (các công ty chuyên chở vận tải).

c.    Chuỗi hoạt động thay thế
Sự thay thế về cầu có thể trở nên phức tạp vì sự tồn tại của “chuỗi hoạt động thay thế”, khi mà B là sản phẩm thay thế của A và C là sản phẩm thay thế của B v.v… Điều này hoàn toàn có thể xảy ra trong thị trường địa lý cũng như thị trường sản phẩm. Ví dụ, hai cửa hàng cạnh tranh nhau để thu hút khách hàng sống trong phạm vi giữa hai cửa hàng đó, nhưng đối với khách hàng sống cách xa, sản phẩm thay thế có thể khác:

Cửa hàng A ß khách hàng 1à Cửa hàng B ßkhách hàng 2à Cửa hàng C ß khách hàng 3à Cửa hàng D.

Trong ví dụ này, cửa hàng A và B là sản phẩm thay thế đối với khách hàng 1, B và C là sản phẩm thay thế đối với khách hàng 2 và C và D là sản phẩm thay thế đối với khách hàng 3. A và D, A và C, B và D không phải sản phẩm thay thế trực tiếp đối với bất kỳ khách hàng nào. Làm thế nào để định ra ranh giới thị trường địa lý? Theo kinh nghiệm của Ủy ban châu Âu thì câu trả lời cho vấn đề trên nằm ở sự tồn tại của sản phẩm thay thế có ảnh hưởng ở phạm vi địa lý nào lên chính sách đặt giá của một công ty.

d.   Thị trường sơ cấp và thứ cấp
Định nghĩa thị trường cũng có vấn đề ở nơi mà một sản phẩm được liên kết với một sản phẩm khác nhưng không phải sản phẩm thay thế, ví dụ như ô tô và linh kiện dự trữ ô tô hoặc máy photocopy và ống cartridges. Trong những tình huống như vậy, hai sản phẩm phải là tương thích với nhau và sức ép đối với sự thay thế được áp đặt bởi những điều kiện trong thị trường liên kết phải được tính đến.

                đ. Nhóm khách hàng riêng biệt

Khách hàng nói chung thường có những thiên vị riêng nhưng khi áp dụng định nghĩa thị trường phải công nhận một thực tế: một nhóm khách hàng có thể chuyển sang sử dụng một sản phẩm tương tự để phản ứng lại việc tăng giá, trong khi nhóm tiêu dùng khác là không thể. Ví dụ một người không biết lái xe không thể phản ứng lại việc tăng giá vé tàu hỏa bằng việc tự quyết định lái ô tô. Trong vụ United Brands ở châu Âu, Tòa án đã xác nhận quyết định của Tổng cục Cạnh tranh châu Âu là: thị trường chuối độc lập với thị trường hoa quả khác, một phần vì đối với một số khách hàng (trẻ em, người già và người bệnh) chuối là hoa quả phù hợp duy nhất (chuối có thể được nấu nhừ cho trẻ em, dễ dàng tiêu hóa, dễ cầm và có thể ăn được bởi người không có răng). Tuy nhiên, lập luận này dẫn tới những luồng chỉ trích kịch liệt mà cụ thể là thực tế chuối đáp ứng nhu cầu duy nhất của một tầng lớp khách hàng riêng biệt không có nghĩa là chuối tạo thành một thị trường riêng lẻ nếu những khách hàng khác (đa số) không bị hạn chế trong lựa chọn hoa quả và có thể phản ứng lại việc tăng giá chuối bằng việc mua những hoa quả khác. Mặc dù tại điểm bán, có thể có sự phân biệt có lợi cho một số khách hàng nhất định (như là sinh viên hoặc người già hưởng hưu chí) bằng việc tính tiền ít hơn giá tiêu chuẩn, nhưng nói chung không thể có sự phân biệt giống như vậy giữa các cá nhân, ví dụ người hưởng trợ cấp và tính tiền họ cao hơn. Nếu không có sự phân biệt người trẻ, người già và người có bệnh (hoặc những người mua cho họ) trong việc tính tiền cao hơn thì thái độ của những khách hàng sẵn sàng thay đổi phải được xét đến. Chính những khách hàng này đã làm ảnh hưởng đến quyết định định về giá của nhà cung cấp và thái độ của khách hàng thường xuyên đóng vai trò quan trọng trong việc xác định thị trường. Một nhóm người tiêu dùng có nhu cầu riêng về một sản phẩm sẽ khó khai thác trừ khi nó được giữ tách biệt từ những người tiêu dùng khác và nếu những người tiêu dùng khác có thể bị ngăn cản từ việc tăng doanh thu từ tầng lớp đặc biệt.

Sau vụ việc này, Ủy ban châu Âu có thừa nhận một nhóm khách hàng riêng biệt sẽ liên quan đến định nghĩa thị trường chỉ khi bản thân khách hàng đó tạo ra một thị trường riêng và sự phân biệt về giá giữa các nhóm khách hàng là có thể xảy ra.

                e. Thị trường trong nền kinh tế mới

Luật Cạnh tranh mà trước đây là Luật chống độc quyền ra đời từ thế kỷ 19 trên cơ sở bối cảnh và nền tảng kinh tế của thời kỳ đó. Hiện nay, sự phát triển vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã hình thành nên một khái niệm mới – nền kinh tế tri thức hay nền kinh tế mới. Nền kinh tế mới đặt ra rất nhiều vấn đề lớn và khó cho việc thực thi Luật Cạnh tranh. Một trong số đó là việc áp dụng các nguyên tắc thông thường của định nghĩa thị trường. SSNIP test cố gắng nhận dạng thay thế về cầu trong ngắn hạn bằng việc ấn định một mức tăng giá nhẹ nhưng đáng kể. Tuy nhiên, thị trường công nghệ cao của nền kinh tế mới có những đặc điểm của cạnh tranh năng động, tức là sản phẩm mới là mối đe dọa của các sản phẩm đang tồn tại trên thị trường. Tập trung vào giả thiết tăng giá sản phẩm từ việc cải tiến thay cho sức ép cạnh tranh có thể dẫn đến nhận dạng thị trường quá hẹp. Định nghĩa thị trường trong nền kinh tế mới là một trở ngại trong thực thi luật, đặc biệt trong trường hợp sáp nhập, nơi mà các bên sáp nhập có thể hy vọng tạo ra những sản phẩm cải tiến mà những sản phẩm này chưa hề tồn tại trên thị trường.

                g. Cấu trúc của cung cầu

Cấu trúc cung cầu có thể đóng vai trò quan trọng trong việc xác định thị trường liên quan và cũng có thể tạo ra những sản phẩm đồng nhất trong các thị trường khác nhau.Tại châu Âu, cấu trúc cung cầu được cho là có liên quan đến việc xác định thị trường trong vụ Michelin. Trong vụ này, Tòa án của châu Âu đã công nhận quyết định của Tổng cục Cạnh tranh châu Âu là những lốp xe hơi hạng nặng đồng nhất có nằm trong các thị trường khác nhau không dựa vào việc xác định liệu chúng được cung cấp cho nhà sản xuất làm thiết bị nguyên gốc trên dây chuyền, hay được cung cấp cho các nhà bán buôn làm đồ thay thế. Có kết luận này là vì tính năng động của giao dịch khá khác nhau.

4 . Sự thay thế về cung

Nghị định số 116/2005/NĐ-CP cũng đề cập đến sự thay thế về cung như một yếu tố có thể tham khảo để xác định thuộc tính có thể thay thế cho nhau của hàng hóa, dịch vụ. Theo kinh nghiệm của châu Âu (vụ Continental Car) thì thị trường được xác định khi tham chiếu tới cả thay thế cung và cầu. Nếu nhà sản xuất của một sản phẩm dễ dàng chuyển sang sản xuất những sản phẩm khác thì cả hai sản phẩm đó có thể cùng nằm trong một thị trường. Khó khăn ở đây là việc phân biệt thay thế về cung với cạnh tranh tiềm năng. Ủy ban châu Âu cho rằng đây là câu hỏi thuộc phạm vi thời gian. Nếu nhà sản xuất có thể chuyển sang sản xuất sản phẩm khác trong một thời gian ngắn mà không gặp phải chi phí hoặc rủi ro đáng kể, thì hai sản phẩm đó được cho là nằm trong cùng một thị trường. Nếu nhà sản xuất tham gia vào thị trường nhưng chỉ trong thời gian dài và sau khi gánh chịu một số chi phí thì lúc đó sự hiện diện của nhà sản xuất sẽ không liên quan trong giai đoạn định nghĩa thị trường. Tuy nhiên, sự hiện diện này sẽ là quan trọng khi đánh giá sức mạnh thị trường: nếu nhà sản xuất có thể tham gia thị trường, lúc đó họ sẽ là đối thủ cạnh tranh tiềm năng và sự tồn tại đó sẽ có tác động kìm hãm đối với các đối thủ khác đang hoạt động trên thị trường. Thay thế về cung chỉ khả thi ở những lĩnh vực nhà sản xuất sản xuất ra sản phẩm tương tự chứ không phải là sản phẩm thay thế.

Một ví dụ thực tế là thị trường giấy. Giấy thường được sản xuất tạo ra những chất lượng khác nhau, từ giấy viết tiêu chuẩn tới giấy chất lượng cao được dùng để xuất bản sách nghệ thuật. Từ khía cạnh nhu cầu, chất lượng giấy khác nhau được sử dụng tùy vào mục đích nhất định, ví dụ sách nghệ thuật hoặc sách xuất bản chất lượng cao không dựa trên giấy chất lượng thấp. Tuy nhiên, các nhà sản xuất chuẩn bị sản xuất ra những mặt hàng giấy có chất lượng khác nhau, và việc sản xuất đó có thể được điều chỉnh với chi phí không đáng kể và trong một thời gian ngắn. Không gặp khó khăn trong việc phân phối, nhà sản xuất giấy do đó có thể cạnh tranh đối với việc đặt hàng chất lượng giấy khác nhau, đặc biệt nếu lệnh đặt hàng được đặt với thời gian cho phép điều chỉnh kế hoặch sản xuất. Trong những tình huống đó, không nên xác định một thị trường tách biệt đối với mỗi loại giấy và mục đích tương ứng. Chất lượng giấy khác nhau nằm trong cùng một thị trường, và doanh thu sẽ được tính tổng cộng để đánh giá toàn bộ giá trị và số lượng của thị trường.

Khi thay thế về cung cho phép điều chỉnh đáng kể động sản và bất động sản, đầu tư bổ sung, quyết định chiến lựợc hoặc thời gian trì hoãn, thì nó sẽ không được xem xét trong giai đoạn định nghĩa thị trường. Ví dụ trong lĩnh vực sản xuất đồ uống có nhãn. Về nguyên tắc, các nhà máy đóng chai sản xuất những đồ uống khác nhau, nhưng thực tế có chi phí trội nảy sinh (quảng cáo, thử nghiệm sản phẩm và phân phối) trước khi sản phẩm cụ thể có thể được bán ra. Trong những trường hợp thế này, tác động của thay thế về cung và hình thức cạnh tranh tiềm năng khác sẽ được xem xét ở giai đoạn sau.  Liệu khả năng thay thế về cung có được tính đến ở giai đoạn định nghĩa thị trường hay không mang một ý nghĩa rất quan trọng nhưng chỉ trong trường hợp thị phần là vấn đề tồn tại duy nhất và không có “giai đoạn sau” như được đề cập ở đoạn trên. Nếu thay thế về cung được tính đến tại giai đoạn định nghĩa thị trường thì nó có thể mở rộng thị trường và một doanh nghiệp liên quan sẽ có thị phần không đáng kể trong khi với một thị trường hẹp hơn doanh nghiệp đó lại có cổ phần đủ lớn.

5 . Thị trường địa lý

Thông thường, xác định thị trường địa lý là yếu tố cần thiết. Do được xác định bởi tính thay đổi sản phẩm, định nghĩa thị trường có khả năng là các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm đồng nhất sẽ không hoạt động trên cùng thị trường nếu các doanh nghiệp này hoạt động trên những khu vực địa lý loại trừ nhau. Tuy nhiên, khi một khách hàng ở Anh có thể thay thế sữa tắm Pháp bằng sữa tắm Anh thì nhà sản xuất ở Anh không có sức mạnh thị trường nếu mức độ tăng giá nhẹ nhưng đáng kể lại làm cho khách hàng của họ mua sữa tắm Pháp thay thế. Theo Nghị định số 116/2005/NĐ-CP thì liệu khu vực địa lý có loại trừ nhau hay không, liệu thị trường địa lý của một sản phẩm là toàn cầu hay một địa phương cụ thể, sẽ phụ thuộc vào nhiều nhân tố, chủ yếu là chi phí vận chuyển, bản chất của sản phẩm và rào cản gia nhập thị trường. Nếu chi phí vận chuyển tương đối cao với giá trị sản phẩm, thị trường địa lý có thể nhỏ, thậm chí là thị trường địa phương. Có thể có chuỗi thay thế trong thị trường địa lý như đã giải thích ở trên.  Điều 7 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP miêu tả thị trường địa lý là một khu vực có các điều kiện cạnh tranh tương tự. Cách tiếp cận để xác định tính tương tự sẽ dựa vào chi phí vận chuyển, thời gian vận chuyển và sự hiện diện của các rào cản gia nhập như sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý theo quy định của pháp luật về sở hữu công nghiệp; chi phí đầu tư vào sản xuất, phân phối, xúc tiến thương mại hoặc khả năng tiếp cận với các nguồn cung cấp tài chính; quyết định hành chính của cơ quan quản lý nhà nước; các quy định về điều kiện kinh doanh, sử dụng hàng hóa, dịch vụ; các chuẩn mực nghề nghiệp; thuế nhập khẩu và hạn ngạch nhập khẩu và tập quán của người tiêu dùng.

Cách xác định thị trường địa lý có thể hiểu như sau: cơ quan thực thi Luật Cạnh tranh sẽ xem xét sơ bộ phạm vi của thị trường địa lý trên cơ sở những chỉ số khái quát về phân phối thị phần giữa các nhà sản xuất và đối thủ của họ, cũng như phân tích sơ bộ việc định giá và sự khác biệt về giá ở các vùng, miền khác nhau.

Thử nghiệm lý thuyết lại dựa trên sự thay thế nảy sinh từ thay đổi giá tương đối, và câu hỏi cần trả lời lần nữa là liệu khách hàng có chuyển sang sử dụng sản phẩm từ các doanh nghiệp ở vị trí địa lý khác trong thời gian ngắn và tại mức chi phí không thay đổi đáng kể không.

Nếu cần thiết, sẽ tiến hành kiểm tra kỹ hơn các nhân tố cung cấp để đảm bảo rằng những doanh nghiệp có trụ sở ở các khu vực khác không đối mặt với những cản trở trong việc phát triển doanh thu qua toàn bộ thị trường địa lý. Phân tích này sẽ bao gồm việc kiểm tra đối với từng rào cản gia nhập đã nêu ở trên. Tóm lại, cần xác minh những khó khăn của các doanh nghiệp tại một khu vực xác định so với sức ép cạnh tranh của các doanh nghiệp ngoài khu vực đó, để quyết định ranh giới địa lý của thị trường.