Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Trong tiến trình nghiên cứu của cộng đồng khoa học có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm, nội dung cũng như phạm vi trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Mỗi nghiên cứu, tổ chức, doanh nghiệp và chính phủ hiểu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp dưới những góc độ và quan điểm riêng, tùy thuộc vào điều kiện, đặc điểm và trình độ phát triển khác nhau.

Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được H.R. Browen đưa ra đầu tiên vào năm 1953 trong quyển sách “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân”. Sau ông, có nhiều tác giả cũng đã đưa ra khái niệm trách nhiệm xã hội như là Davis (1960) trong quyển “Luật thép của trách nhiệm”, Mc Guire (1963) trong quyển “Kinh doanh và xã hội”. Song, trong giai đoạn này khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được nhắc đến và định nghĩa thường là gắn với pháp luật và kinh tế.

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tiếp tục được nhắc đến và được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau sau đó. Theo Carroll (1979), trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm sự mong đợi của xã hội về kinh tế, pháp luật, đạo đức và từ thiện đối với các tổ chức tại một thời điểm nhất định. Tiếp tục theo đuổi nghiên cứu về trách nhiệm xã hội, năm 1991, ông đưa ra bốn loại trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tạo thành khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp hoàn chỉnh: đó là các khía cạnh kinh tế, luật pháp, đạo đức và từ thiện và được mô tả như một kim tự tháp như ở hình ngay bên dưới đây:

Khái niệm trách nhiệm xã hội theo mô hình kim tự tháp của Caroll (1991) được nhiều nghiên cứu trên thế giới tiếp cận và với những nghiên cứu cụ thể ở những thị trường khác nhau. Nội dung mô hình này được cụ thể như sau:

Trách nhiệm kinh tế: Tối đa hóa lợi nhuận, cạnh tranh, hiệu quả và tăng trưởng là điều kiện tiên quyết bởi doanh nghiệp được thành lập trước hết từ động cơ tìm kiếm lợi nhuận của doanh nhân. Doanh nghiệp còn là các tế bào kinh tế căn bản của xã hội. Các trách nhiệm còn lại đều phải dựa trên ý thức trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp.

Trách nhiệm pháp lý: Đây chính là một phần của bản “khế ước” giữa doanh nghiệp và xã hội. Nhà nước có trách nhiệm đưa các quy tắc xã hội, đạo đức vào văn bản luật để doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu kinh tế trong khuôn khổ đó một cách công bằng và đáp ứng được các chuẩn mực và giá trị cơ bản mà xã hội mong đợi.

Trách nhiệm đạo đức: là những quy tắc, giá trị được xã hội chấp nhận nhưng chưa được đưa vào văn bản luật, do đó tuân thủ pháp luật chỉ được coi là sự đáp ứng những đòi hỏi, chuẩn mực tối thiểu mà xã hội đặt ra. Doanh nghiệp còn cần phải thực hiện cả các cam kết ngoài luật. Trách nhiệm đạo đức là tự nguyện, nhưng lại là trung tâm của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

Trách nhiệm từ thiện: là những hành vi của doanh nghiệp vượt ra ngoài sự mong đợi của xã hội. Điểm khác biệt giữa trách nhiệm từ thiện và đạo đức là doanh nghiệp hoàn toàn tự nguyện. Nếu doanh nghiệp không thực hiện trách nhiệm xã hội đến mức độ này, họ vẫn được coi là đáp ứng đủ các chuẩn mực mà xã hội mong đợi.

Khái niệm của Caroll (1991) được ứng dụng khá rộng rãi trong một thời gian dài, bên cạnh đó, Friedman (1970) lại đưa ra khái niệm trách nhiệm xã hội mà trọng tâm của nó vẫn còn được chấp nhận rộng rãi cho đến ngày hôm nay (Carter và các cộng sự, 2000; Chand, 2006; Frooman, 1997). Friedman (1970) nói rằng các nhà quản lý không chỉ có trách nhiệm đối với cổ đông, mà còn phải gia tăng sự giàu có cũng như những tài sản cho cổ đông của họ. Như vậy, ông tập trung vào khía cạnh rất khác biệt trong công tác quản lý, trong trách nhiệm quản lý, ông xem trách nhiệm quản lý và thậm chí là cả giám đốc điều hành cũng là những nhân viên của các chủ sở hữu- chính là bản thân họ và như vậy trách nhiệm duy nhất của họ (cũng chính là các chủ sở hữu) là làm càng nhiều càng tốt tạo ra càng nhiều giá trị càng tốt và phù hợp với các quy tắc cơ bản của xã hội. Milton Friedman (1970) có viết rằng: Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là để tăng lợi nhuận của nó, đây là một nhận định gây tranh cãi nhất lúc bấy giờ, trong thời điểm được công bố nó không phải là một báo cáo khoa học (công bố trên tạp chí New York Times). Theo ông, các nhà quản lý có trách nhiệm đạo đức để hành động luôn luôn trong dài hạn để chạy theo lợi ích tốt nhất của các cổ đông. Ông không cho rằng các doanh nghiệp nên tham gia vào các hoạt động làm tăng phúc lợi xã hội; vì trên thực tế, ông lập luận rằng chủ nghĩa tư bản thị trường tự do tự làm tăng phúc lợi xã hội. Điều này có nghĩa rằng các doanh nghiệp chắc chắn sẽ tham gia vào các hoạt động mà các hoạt động này sẽ làm tăng phúc lợi xã hội. Tuy nhiên, theo quan điểm của Friedman động lực duy nhất của người quản lý cho doanh nghiệp tham gia vào các hoạt động xã hội nghĩa là tăng phúc lợi của xã hội là phải luôn luôn tăng trong dài hạn trong sự giàu có của cổ đông.

Khái niệm này dường như độc lập và tương phản phần nhiều với khái niệm về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp mà Caroll (1991) đề cập đến. Thực tiễn một số nghiên cứu cũng sử dụng khái niệm này của Friedman (1970) để nâng cao và củng cố việc tầm quan trọng của quản lý và tầm quan trọng của việc làm cho gia tăng ngày một cao hơn lợi ích của cổ đông. Trong khi khái niệm của Caroll (1991) thường được tiếp cận với việc nghiên cứu thị trường và hướng đến khách hàng hoặc cho các chương trình marketing mang tính chất vì môi trường vì cộng đồng.

Sau khoảng thời gian này, Freeman (1991) đã đưa ra khái niệm về trách nhiệm xã hội theo hướng tiếp cận khác, và đó là ý kiến hoàn toàn trái chiều với Friedman (1970). Freeman (1991) lập luận rằng mang lại hiệu quả xã hội là cần thiết để đạt được việc kinh doanh hợp pháp. Freeman (1991) còn nhắc đến các bên liên quan – các nhà quản lý có trách nhiệm ủy thác cho tất cả các bên liên quan – không chỉ là các cổ đông mà tất cả các bên liên quan, cụ thể đó là khách hàng, nhân viên, nhà cung ứng, công đồng và ngay cả xã hội. Freeman (1991) còn đưa ra cả mối liên hệ giữa trách nhiệm xã hội và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và đề nghị mối quan hệ này là có thực và tính tích cực khi được thể hiện trong dài hạn.

Như vậy, khái niệm về trách nhiệm xã hội của Freeman (1991) dường như phù hợp nhất khi nghiên cứu việc thực hiện trách nhiệm xã hội với hiệu quả hoạt động. Bởi vì khái niệm này đề cập việc tương tác trách nhiệm của doanh nghiệp với các bên liên quan. Việc doanh nghiệp tương tác các hoạt động của mình với các hoạt động của các bên liên quan nhằm tạo nên hiệu quả hoạt động cho doanh nghiệp cũng như các đối tác là quan trọng nhất.

Một khái niệm trong khuôn khổ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là mô hình ba vòng tròn đồng tâm (Triple bottom-lines) của Elkington (1997). Khái niệm về ba vòng tròn đồng tâm nắm bắt một chuỗi mở rộng các giá trị và tiêu chuẩn để đo lường thành công của tổ chức: kinh tế, môi trường và xã hội. Theo đó, các doanh nghiệp ngày nay không nên chỉ chú trọng theo đuổi lợi nhuận kinh tế (Profit), mà còn phải đảm bảo “lợi nhuận” về con người (People) và môi trường (Planet). Trong thực tế, ba vòng tròn đồng tâm nghĩa là mở rộng khuôn khổ báo cáo truyền thống để đưa vào hiệu quả sinh thái và xã hội bên cạnh hiệu quả hoạt động. Mô hình ba vòng tròn đồng tâm đòi hỏi trách nhiệm của một doanh nghiệp là với các bên liên quan chứ không phải chỉ với cổ đông. Các tổ chức kinh doanh được sử dụng như một phương tiện để kết hợp các lợi ích của các bên liên quan, thay vì tối đa hóa lợi nhuận của cổ đông. Do đó, lý thuyết ba vòng tròn đồng tâm đặt ra những hướng dẫn và nguyên tắc để đánh giá và báo cáo thành tựu trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Đây cũng là thước đo cụ thể đối với mức độ cam kết trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Elkington, 1997).

McWilliams và Siegel (2001) trong nghiên cứu của họ đã sử dụng định nghĩa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là những hành động xuất hiện để đẩy mạnh những điều tốt cho xã hội, ngoài lợi ích của công ty và được yêu cầu theo quy định của pháp luật.

Matten và Moon (2004) cho rằng: “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là một khái niệm bao trùm nhiều khái niệm khác nhau như đạo đức kinh doanh, doanh nghiệp làm từ thiện, công dân doanh nghiệp, tính bền vững và trách nhiệm môi trường. Đó là một khái niệm động và luôn được thử thách trong từng bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội đặc thù” (Thắng, 2010). Khái niệm trên có tính toàn diện vì việc đặt trách nhiệm kinh tế làm nền tảng không những thỏa mãn cả nhu cầu về lý thuyết “đại diện” trong quản trị công ty, mà còn giải quyết được những hoài nghi về tính trung thực trong các chương trình trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Từ đó, vấn đề “vì mình” hay “vì người” không còn được đặt ra nữa, bởi hai mục đích đó là không thể tách rời. Mối quan hệ giữa từ thiện và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được làm rõ, trách nhiệm từ thiện chỉ là “bề nổi của tảng băng chìm” trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Cân bằng lợi ích của các bên liên quan được đặt ra như một nội dung then chốt trong quản trị doanh nghiệp. Người quản lý doanh nghiệp phải điều hòa lợi ích các bên liên quan. Mỗi bên liên quan có lợi ích đặc thù ở các mức độ khác nhau đối với các trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức, từ thiện của doanh nghiệp (Cung và Đức, 2009).

Sau đây là bảng tổng hợp các khái niệm của các tác giả qua các giai đoạn: