Khái niệm và biểu diễn cầu sản phẩm nông nghiệp

Cầu sản phẩm nông nghiệp là khái niệm dùng để chỉ lượng hàng hoá nông sản mà người mua có khả năng mua và sẵn sàng mua ở mỗi mức giá trong những thời điểm nhất định.

Cầu trong khái niệm trên khác với nhu cầu. Không phải bất cứ nhu cầu nào của người tiêu dùng cũng được thoả mãn. Người ta chỉ có thể mua hàng với túi tiền của mình, tức là cầu có khả năng thanh toán. Với thu nhập có hạn, người tiêu dùng phải tính toán nên mua loại hàng nào, số lượng bao nhiêu. Như vậy lượng hàng mua được còn phụ thuộc vào giá cả. Với mỗi mức giá, họ sẽ được lượng hàng tương ứng. Thái độ ứng xử của người tiêu dùng là làm sao thoả mãn đến mức tối đa tiêu dùng của mình trong điều kiện thu nhập có hạn.

Có cầu cá nhân và cầu thị trường. Đối với từng cá nhân, người tiêu dùng phân biệt nhóm sản phẩm tiêu dùng cuối cùng cho sinh hoạt (lương thực, thực phẩm…) và nhóm sản phẩm tiêu dùng trung gian (hạt giống, thức ăn gia súc, nguyên liệu chế biến…). Những người tiêu dùng sản phẩm cuối cùng sẽ cần một lượng hàng hoá tương đương với phần thu nhập dành mua thứ hàng đó. Như vậy, khi giá thấp anh ta mua được lượng hàng nhiều còn khi giá cao thì ngược lại. Những người tiêu dùng sản phẩm trung gian sẽ cần một lượng hàng nhất định dựa vào định mức kinh tế – kỹ thuật và qui mô sản xuất của họ. Như vậy, nếu giá hạ người ta cũng không mua nhiều hơn, còn nếu giá tăng người ta có thể tìm mặt hàng khác thay thế, thậm chí trong chừng mực phải giảm qui mô sản xuất hoặc chuyển hướng sản xuất.

Cầu thị trường nông sản được hình thành trên cơ sở tổng hợp mọi cầu cá nhân, tức là cầu có khả năng thanh toán của xã hội. Đối với một loại nông sản hàng hoá, cầu thị trường có liên quan đến một nhóm người tiêu dùng và khả năng thanh toán của họ.

Cầu thị trường nông sản chịu tác động ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách quan. Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu nông sản (còn gọi là yếu tố xác định cầu) luôn luôn thay đổi. Người ta có thể biểu diễn mối quan hệ giữa cầu thị trường nông sản và các yếu tố xác định cầu qua hàm số cầu, ký hiệu Qd.

Qd = f (P1, P2, … Pm, M, POP, ID); i = 1,n

Trong đó:    Qd: Tổng cầu loại nông sản thứ i

P1, P2,…PN: Đơn giá các loại nông sản trên thị trường M: Thu nhập tính theo đầu người

POP: Số người tiêu dùng trên thị trường ID : Chỉ số phân phối thu nhập.

Đường cong cầu tổng quát (hình 8.2) biểu diễn mối quan hệ giữa giá cả P và lượng cầu Q. Số cầu là cầu ứng với mỗi mức giá là Q1 và ở giá P2 thì số cầu là Q2. Tổng hợp tất cả các số cầu ta có biểu cầu và minh hoạ bằng hình học ta có đường cong cầu. Quan hệ giữa lượng cầu và giá cả là quan hệ nghịch. Vì vậy ta có thể biểu diễn đường cong cầu về một loại nông sản hàng hoá như hình 8.2.

Việc sử dụng đường cong cầu nông sản để phân tích mối quan hệ giữa lượng cầu với sự thay đổi của giá cả thị trường, cầu lưu ý trong thời hạn dài, cầu không phản ứng tức thời với những biến giá. Trên hình 8.3, thoạt đầu người tiêu dùng ở điểm cân bằng, mua lượng sản phẩm Qo với giá Po. Giả sử giá hạ xuống P1, người tiêu dùng muốn mua lượng sản phẩm Q1, nhưng họ tăng dần lượng hàng mua từ Q0 lên Q’, Q” …. rồi lên Q1. Người ta gọi hiện tượng trên là sự phản ứng chậm trễ của cầu (hình 8.3).

Phản ứng chậm của cầu có thể do nhiều nguyên nhân: Thứ nhất, ở nơi nào đó sự biến giá đó là không ổn định. Thứ hai, thu nhập của dân cư còn bấp bênh. Thứ ba, tập quán tiêu dùng khó thay đổi theo hướng tiêu dùng tăng. Thứ tư, có sự ngăn cản tăng mức tiêu dùng do chính sách của Nhà nước hay của địa phương.

Trong thực tế, khi dự đoán phản ứng mua hàng của người tiêu dùng trước tình hình biến động của giá cả hay thu nhập, người ta thường dự kiến các hệ số co dãn lớn hơn mức bình thường trong kế hoạch dài hạn.