Khái niệm và đặc điểm của vốn cố định trong nông nghiệp

* Khái niệm và đặc điểm.

Tư liệu lao động là điều kiện vật chất không thể thiéu được trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Có nhiều loại tư liệu lao động và công dụng của mỗi loại không giống nhau, nhưng chúng đều có tính chất chung là giữ vai trò môi giới trong quá trình lao động, tạo nên sự kết hợp giữa người lao động và đối tượng lao động. Để tiến hành kinh doanh sản xuất cần thiết phải ứng trước một số tiền vốn nhất định để mua sắm tư liệu lao động. Trong quá trình sản xuất, tư liệu lao động không thay đổi hình thái vật chất ban đầu và tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm mới theo mức độ hao mòn. Vốn đầu tư ban đầu thu hồi từng phần sau mỗi chu kỳ sản xuất thông qua quỹ khấu hao. Tài sản cố định hết thời hạn sử dụng sẽ được thanh lý đào thải. Do đặc điểm trong quá trình luân chuyển, hình thái vật chất của tư liệu lao động được gọi là tài sản cố định và phần vốn ứng trước được gọi là vốn cố định. Là tài sản cố định phải có đủ hai điều kiện: đạt giá trị tối thiểu theo quy định và thời hạn sử dụng phải trên một năm. Giá trị tối thiểu tuỳ thuộc từng thời kỳ Bộ tài chính có quy định cụ thể.

Như vậy vốn cố định là số vốn ứng trước để mua sắm tư liệu lao động chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Phương thức luân chuyển và bù đắp giá trị của nó là chuyển dần từng phần giá trị vào sản phẩm mới đến khi tư liệu lao động hết thời hạn sử dụng thì vốn cố định kết thúc quá trình luân chuyển.

* Phân loại đánh giá vốn cố định.

Vốn cố định được phân loại theo chức năng (sản xuất và phi sản xuất vật chất). Theo công dụng của từng yếu tố (tư liệu lao động cơ khí, tư liệu lao động sinh học, điều kiện vật chất của lao động v.v.) hoặc theo cơ cấu các ngành sản xuất trong nông nghiệp.

Có thể sử dụng 5 phương pháp sau để đánh giá vốn cố định; phương pháp đánh giá theo giá trị ban đầu hoàn toàn, theo giá khôi phục hoàn toàn, theo giá trị ban đầu trừ phần đã hao mòn, theo giá trị khôi phục trừ phần đã hao mòn và theo giá cố định.

Tái sản xuất vốn cố định.

Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, tất cả tài sản cố định đều bị hao mòn hữu hình và  hao mòn vô hình. Sự hao mòn hữu hình là sự hao mòn vật chất dưới dạng hình thức cọ xát, biến dạng, hư hỏng, bị ăn mòn. Những chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật đối với tư liệu cơ khí và khả năng sinh sản của chúng (đối với tư liệu sinh học) bị thay đổi, đặc tính, hiệu suất, và độ tin cậy của tài sản cố định chuyển dần vào những sản phẩm đã được sản xuất ra trong quá trình sản xuất.

Hao mòn vô hình là sự hao mòn làm giảm giá trị của tài sản cố định do tiến bộ khoa học – công nghệ. Tài sản cố định bị giảm giá là do người ta đã sản xuất những tư liệu lao động cùng một chức năng nhưng hiện đại hơn về công nghệ, có năng suất cao hơn hoặc giá thành rẻ hơn. Hao mòn vô hình là tất yếu khách quan, đặc biệt trong điều kiện ngày nay cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đang phát triển với nhịp độ nhanh chóng và tác động mạnh mẽ vào nông nghiệp kéo theo sự thay đổi sâu sắc về tư liệu lao động. Vì vậy trong thực tiễn sản xuất, vấn đề đặt ra là phải giảm thấp sự tổn thất do sự hao mòn vô hình các tài sản cố định bằng cách mua sắm những tư liệu lao động có trình độ kỹ thuật cao, đảm bảo sử dụng đem lại hiệu quả lớn và tiến hành khấu hao hết trước khi thanh lý.

Tái sản xuất tài sản cố định chủ yếu thực hiện bằng hai phương thức:

– Thông qua quỹ khấu hao:

Quỹ khấu hao được hình thành trên cơ sở trích khấu hao hàng năm. Mục đích chủ yếu là để tái sản xuất giản đơn tư liệu lao động, nhưng trên thực tế nó thực hiện chức năng tái sản xuất mở rộng, vì rằng đến khi khấu hao hoàn toàn tài sản cố định, quỹ khấu hao này được sử dụng để xây dựng tài sản cố định mới.

Khi tiến hành khấu hao tài sản cố định phải đảm bảo các yêu cầu sau: Bù đắp đủ giá trị tài sản cố định đã hao mòn trong quá trình sử dụng.

Các bộ phận cấu thành của tài sản cố định thường có nhịp độ hao mòn không giống nhau. Muốn duy trì hoạt động của máy móc lâu dài phải chi thêm một khoản tiền sửa chữa lớn. Sau khi không còn khả năng sử dụng, tài sản cố định sẽ được thanh lý, phần giá trị này gọi là giá trị đào thải.

Như vậy, phần giá trị khấu hao thu được hàng năm gồm có hai phần và chuyển thành các loại quỹ: quỹ khấu hao cơ bản và quỹ khấu hao sữa chữa lớn.

Công thức khấu hao chung như sau:

Trong đó:

A: Mức khấu hao hàng năm

Gb: Giá trị ban đầu hoàn toàn của tài sản cố định S: Chi phí sửa chữa lớn

Gt: Giá trị đào thải tài sản cố định T: Thời gian sử dụng

Q: Khối lượng sản phẩm có thể sản xuất ra trong thời kỳ tồn tại của tài sản cố định.

q: Khối lượng sản phẩm sản xuất ra trong năm tính toán.

Tùy thuộc vào từng loại tài sản cố định mà vận dụng công thức tính khấu hao theo thời gian sử dụng hoặc theo khối lượng sản phẩm có thể sản xuất ra. Chẳng hạn đối với cây lâu năm có thể tính khấu hao theo sản lượng, đối với máy kéo tính theo khối lượng công việc hoàn thành… Để đơn giản trong tính toán, cần phải xác định tỷ lệ khấu hao hàng năm cho từng loại sản phẩm cố định. Dựa vào tỷ lệ đó để xác định mức khấu hao và phân bổ vào giá thành sản phẩm.

Tỷ lệ khấu hao hàng năm với giá trị ban đầu hoàn toàn của tài sản cố định, ta có công thức:

–   Thông qua đầu tư xây dựng cơ bản.

Đầu tư xây dựng cơ bản là bỏ vốn để mua sắm và xây dựng tài sản cố định mới cho nông nghiệp. Việc mua sắm chủ yếu là máy móc, trang thiết bị, xây dựng cơ bản bao gồm việc trồng mới và chăm sóc vườn cây lâu năm, đàn súc vật hậu bị, nhà kho, sân phơi, công trình thủy lợi…. Vốn đầu tư còn để khôi phục, hiện đại tài sản cố định đang hoạt động. Như vậy, vốn đầu tư xây dựng cơ bản là một trong những nguồn gốc chủ yếu để tái sản xuất vốn cố định.