Khái niệm về di chuyển lao động quốc tế và di chuyển lao động khu vực

Nếu xét trong phạm vi quốc tế thì “di chuyển lao động quốc tế” chính là sự di chuyển sức lao động từ nước này sang nước khác nhằm tìm kiếm các cơ hội việc làm và thu nhập tốt hơn nơi ở ban đầu”.

Một số tài liệu nghiên cứu cho rằng “di chuyển lao động quốc tế” chính là  hoạt động “xuất – nhập khẩu lao động” giữa các nước thông qua “con đường” chính thức đã được thỏa thuận giữa hai nước; hoặc di chuyển lao động chính là việc người di cư có thể đi qua biên giới nước mình để tới nước đến thông qua hình thức quá cảnh, trong đó có cả di chuyển lao động hợp pháp và bất hợp pháp (hay nói cách khác, di chuyển theo con đường chính thức và không chính thức).

Như vậy, thuật ngữ “di chuyển lao động quốc tế” thể hiện sự tương tác giữa các thị trường lao động quốc gia trong nền kinh tế toàn cầu và tuân theo những quy luật thị trường.

Toàn cầu hóa, khu vực hóa trong những năm gần đây ngày càng trở nên mạnh mẽ. Các quốc gia trong một khu vực kinh tế có xu hướng tạo lập những mối quan hệ liên kết kinh tế quốc tế đặc biệt để đạt những mục tiêu tăng trưởng cho các quốc gia thành viên và xây dựng những thị trường nguồn lực chung nhằm khai thác hiệu quả nhất lợi thế chuyên môn hóa sản xuất.

  • Di chuyển lao động trong khối kinh tế khu vực

Nếu như di chuyển lao động trong xu thế toàn cầu hóa thường được nghiên cứu với khái niệm “di chuyển lao động quốc tế” thì trong xu thế khu vực hóa sẽ tồn tại khái niệm “di chuyển lao động trong khối kinh tế khu vực (nội khối)”, chỉ việc người lao động ở các nước thành viên một khối kinh tế (có liên kết kinh tế chặt chẽ) chuyển dịch sang nước khác trong cùng khối dưới tác động của cung – cầu trên thị trường lao động chung, thể chế kinh tế và các cam kết hợp tác kinh tế khu vực. Di chuyển  lao động nội khối giải quyết vấn đề kinh tế chung của một khối kinh tế, tạo sự “cân bằng động” cho thị trường lao động giữa các quốc gia thành viên.

Từ những phân tích trên, có thể hiểu là di chuyển lao động dù ở cấp độ quốc gia, song phương, khu vực hay toàn cầu thì đó là di chuyển của người lao động từ thị trường lao động này đến thị trường lao động khác nhằm thu được lợi ích (tiền lương, thu nhập) cao hơn cho lao động của họ trong khu vực, ngành, liên ngành, liên quốc gia, giữa các doanh nghiệp, cũng như việc chuyển dịch nơi làm việc. Quá trình di chuyển này thể hiện sự tương tác về cung và cầu của thị trường lao động. Di chuyển lao động là kết quả của việc thương mại hóa lực lượng lao động và là một biểu hiện trực tiếp của việc tối đa hóa giá trị của lao động. Nhìn chung, dòng chảy của lao động giữa các vùng, khu vực sẽ giúp thu hẹp khoảng cách tiền lương giữa các vùng hay khu vực, tạo ra động lực thúc đẩy thị trường lao động phát triển.

Sự khác biệt của di chuyển lao động nội khối và di chuyển lao động quốc tế nằm ở mối quan hệ kinh tế giữa các nước thành viên trong khối kinh tế với các nước bên ngoài, ở các thể chế và hợp tác kinh tế khu vực được ký kết. Di chuyển lao động nội khối thường mang tính chất đa phương, phụ thuộc vào mức độ liên kết kinh tế giữa các nước thành viên. Khối kinh tế nào có mức độ liên kết càng cao thì di chuyển lao động nội khối càng dễ dàng, thuận tiện và sự tham gia của các nước thành viên vào di chuyển lao động nội khối càng nhiều và ngược lại.