Khái niệm về lao động có kỹ năng/lao động kỹ năng

Lao động có kỹ năng/lao động kỹ năng còn gọi là lao động kỹ thuật hoặc lao động có tay nghề. “Đề án nghiên cứu tổng thể về giáo dục-đào tạo và phân tích nguồn nhân lực Việt Nam” (VIE/89/022) của UNESCO [54] đã đưa ra khái niệm về “Lao động kỹ thuật” và cho rằng lao động kỹ thuật là lao động qua đào tạo được cấp bằng hoặc chứng chỉ của các bậc đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất. Người lao động được xếp vào loại lao động kỹ thuật nếu đủ 2 điều kiện: (i) được đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất; (ii) được cấp bằng hoặc chứng chỉ của các bậc đào tạo [54].

Nếu xét theo tính chất lao động, lao động kỹ thuật gồm 2 loại: lao động kỹ thuật thực hành và lao động chuyên môn. Ở Việt Nam hiện nay, lao động kỹ thuật thực hành được đào tạo bởi hệ thống giáo dục nghề nghiệp phục vụ cho hoạt động lao động sản xuất và dịch vụ. Lao động chuyên môn được đào tạo bởi hệ thống trường cao đẳng, đại học, sau đại học gắn với loại hình công việc quản lý, nghiên cứu khoa học và lao động chuyên môn.

Nhìn chung, cho đến nay, việc phân chia kỹ năng cũng rất đa dạng theo lĩnh vực và thường sử dụng cách phân chia của Ngân hàng thế giới, bao gồm: kỹ năng nhận thức, kỹ năng xã hội và hành vi, và kỹ năng kỹ thuật [52, tr.11]. Mỗi loại kỹ năng có đặc thù riêng, ví dụ: Kỹ năng nhận thức bao gồm kỹ năng sử dụng tư duy lô- gíc, trực giác và tư duy phản biện, giải quyết vấn đề trên cơ sở các kiến thức đã có (khả năng đọc, viết và tính toán, hiểu được các ý tưởng phức tạp, học hỏi từ kinh nghiệm, và phân tích vấn đề sử dụng các quy trình tư duy lô-gíc); kỹ năng xã hội và hành vi thể hiện các tố chất cá nhân ảnh hưởng tới chất lượng thị trường lao động như: trải nghiệm, tận tâm, hướng ngoại, biết cách hỗ trợ và làm chủ cảm xúc. Các kỹ năng kỹ thuật thể hiện khả năng sử dụng các công cụ, thiết bị ở các cấp độ khác nhau.

Trong thực tế, kỹ năng (nghề nghiệp) rất đa dạng. Để phân loại, người ta dựa vào một số tiêu chuẩn xác định.

  • (2) Kỹ năng riêng, là kỹ năng chỉ có ở một số người và trong hoạt động nghề nghiệp nhất định nào đó như kỹ năng đi thăng bằng trên dây của nghệ sỹ xiếc, kỹ năng điều khiển dàn nhạc của nhạc trưởng… Mỗi nghề, tùy thuộc vào từng trình độ, đòi hỏi công nhân phải có các kỹ năng tương ứng như thợ nguội phải có các kỹ năng dũa, đục, mài, rèn, khoan, cạo; thợ tiện phải có các kỹ năng sử dụng máy tiện, máy mài, máy khoan, kỹ năng gá, đọc bản vẽ…;
  • Nếu căn cứ vào mức độ quan trọng của kỹ năng, người ta phân ra các loại:

(1) Kỹ năng cơ bản: gồm những kỹ năng áp dụng để làm việc nói chung không dành riêng cho một nghề hoặc một ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; (2) Kỹ năng chung: gồm những kỹ năng có thể áp dụng chung cho nhiều lĩnh vực, ngành nghề có liên quan; (3) Kỹ năng cốt lõi: gồm những kỹ năng cần thiết, bắt buộc phải có để được công nhận là có trình độ nghề nghiệp nhất định nào đó.

-Nếu căn cứ vào tính chất của kỹ năng, người ta còn phân loại ra các kỹ năng cứng và kỹ năng mềm: (1) Kỹ năng cứng (hard skill) là kỹ năng chuyên môn nghề – kỹ năng kỹ thuật cụ thể như khả năng học vấn, trình độ chuyên môn cho mỗi công việc, ngành nghề nhất định và kinh nghiệm; kỹ năng cứng được cung cấp thông qua các môn học đào tạo chính khóa, có liên kết lô-gich chặt chẽ, và xây dựng tuần tự; (2) Kỹ năng mềm (soft skill), thường hiểu là các kỹ năng không mang tính kỹ thuật (hay còn gọi là kỹ năng thực hành xã hội) là thuật ngữ liên quan đến trí tuệ xúc cảm, dùng để chỉ các kỹ năng quan trọng trong cuộc sống con người như: kỹ năng sống, giao tiếp, lãnh đạo, làm việc theo nhóm, kỹ năng quản lý thời gian, thư giãn, vượt qua khủng hoảng, sáng tạo và đổi mới…

Thuật ngữ lao động kỹ năng (skilled labour) được hiểu là những lao động có trình độ đào tạo nhất định đang làm việc ở những vị trí yêu cầu chuyên môn kỹ thuật cao. Lao động kỹ năng có kiến thức và kỹ năng để làm các công việc phức tạp; có khả năng thích ứng nhanh với thay đổi của công nghệ và vận dụng sáng tạo những kiến thức, kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình lao động sản xuất. Thực chất, lao động kỹ năng3 là những người trực tiếp làm việc tại các vị trí có liên quan mật thiết đến sự ra đời, phát triển, truyền bá và ứng dụng công nghệ. Trong Luận án này, mặc dù không có chữ “cao” nhưng ở đây lao động có kỹ năng hàm ý lao động kỹ năng cao (theo quan niệm thông thường của ILO), xét theo trình độ đào tạo thì người được gọi là lao động kỹ năng phải được đào tạo từ trình độ cao đẳng trở lên.

Như vậy, mặc dù xuất phát từ nhu cầu của thị trường lao động song ở các mức độ khác nhau, kỹ năng cần phải được công nhận, được thừa nhận theo một quy trình nhất định.

Công nhận kỹ năng

Công nhận kỹ năng là sự thừa nhận về kỹ năng theo tiêu chuẩn nhất định.

Một thỏa thuận công nhận/thừa nhận lẫn nhau (MRA) là một thỏa thuận quốc tế trong đó hai hoặc nhiều quốc gia công nhận sự đánh giá phù hợp của một quốc gia khác. MRA được xây dựng để thúc đẩy tăng trưởng thương mại giữa các quốc gia và từ đó đẩy nhanh quá trình hội nhập. MRAs giúp giảm các trở ngại pháp lý liên quan đến hàng rào thương mại phi thuế cho sự vận chuyển của hàng hóa và dịch vụ.

MRA được áp dụng phổ biến với hàng hoá, ví dụ như có rất nhiều các MRA về kiểm soát chất lượng và được công nhận chính thức bởi Tổ chức Thương mại Thế giới theo Hiệp định về Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT). MRA, trên cơ sở thoả thuận giữa hai hay nhiều quốc gia sẽ đảm bảo các cơ quan có chức năng tại quốc gia này công nhận kết quả về đánh giá về sự phù hợp mà quốc gia đối tác đã thực hiện trong lĩnh vực thương mại.

Tuy vậy, thuật ngữ này cũng được áp dụng cho những thoả thuận về công nhận trình độ chuyên môn. Trong nội dung của Luận án này, MRA là đề cập đến Thoả thuận công nhận lẫn nhau về trình độ chuyên môn/tay nghề trong lĩnh vực lao động.

Di chuyển lao động kỹ năng theo Thỏa thuận công nhận lẫn nhau:

Di chuyển lao động kỹ năng theo MRAs giữa các nước ASEAN là sự di chuyển tự do của lao động trình độ cao (lành nghề) giữa các nước ASEAN nhằm tìm kiếm các cơ hội việc làm và điều kiện làm việc tốt hơn, chịu sự chi phối của những yêu cầu trong Hiệp định khung về các ngành dịch vụ ASEAN 1995 (AFAS), trong đó bao gồm các điều khoản về di chuyển thể nhân (MNP).

Di chuyển lao động kỹ năng theo các MRAs có các đặc điểm khác với di chuyển lao động thông thường ở các khía cạnh:

  • MRAs hướng tới hỗ trợ đạt được mụctiêu về di chuyển tự do của lao động có kỹ năng trong khuôn khổ Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC). Các Thoả thuận này đưa ra các yêu cầu về kinh nghiệm hay kỹ năng cần thiết mà những người hành nghề cần phải được công nhận theo MRAs đã có với nước tiếp nhận để sang nước đó làm việc.
  • Di chuyển lao động theo MRAs là di chuyển của lao động kỹ năng, họ có thể tự tìm được việc làm cho mình, đi theo các dòng đầu tư, thương mại và dịch vụ của nước mình sang nước khác hoặc tìm việc thông qua các tổ chức các doanh nghiệp, tổ chức hoặc hiệp hội nghề nghiệp. Còn việc di chuyển của lao động không có kỹ năng hoặc kỹ năng thấp thường sẽ phụ thuộc rất lớn vào các công ty dịch vụ/môi giới về lao động hay vào các mối quan hệ gia đình, xã hội của người lao động.

Khả năng tham gia di chuyển của lao động có kỹ năng trên thị trường quốc tế và khu vực

Trong rất nhiều trường hợp, đánh giá di chuyển lao động kỹ năng trên thị trường lao động quốc tế và khu vực cần thông qua đánh giá khả năng tham gia di chuyển, bởi vì có thể việc di chuyển mới bắt đầu hoặc diễn ra chưa phổ biến, thời gian chưa đủ lâu để đánh giá xác thực trên thực tế. Để hiểu về khả năng tham gia di chuyển lao động kỹ năng trên thị trường lao động quốc tế, trước hết cần hiểu khái niệm liên quan là “năng lực”.

Như vậy, giữa năng lực và khả năng có nhiều điểm chung và đôi khi được sử dụng tương đồng, “khả năng” mang ý nghĩa như “năng lực” cần thiết phải có để làm/tham gia vào một hoạt động/công việc cụ thể nào đó, theo Sharly Lauby. Cũng có khái niệm cho rằng khả năng bao gồm yếu tố cá nhân và yếu tố xã hội (John G. Nocholls, 1984). Theo yếu tố cá nhân, khả năng đề cập đến tính có thể hoặc không thể thực hiện một công việc/mục đích nào đó mà một cá nhân tự mình đảm nhiệm dù không có sự hỗ trợ từ bên ngoài, theo đó, góc độ này nhấn mạnh đến “năng lực cá nhân” như nêu ở trên. Theo yếu tố xã hội, khả năng đề cập đến tình trạng có thể hoặc không thể xuất hiện sự can thiệp, tác động từ bên ngoài nhằm trợ giúp cho cá nhân thực hiện một công việc/mục đích nào đó, góc độ này nhấn mạnh đến “năng lực xã hội” có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến năng lực cá nhân như: các mối quan hệ xã hội của cá nhân, của gia đình, hoàn cảnh xã hội, yếu tố chính trị … Như vậy, khả năng theo nghĩa rộng đề cập đến năng lực của một cá nhân và năng lực can thiệp từ bên ngoài (xã hội) để hỗ trợ cá nhân đó có thể thực hiện một hoạt động, một ước muốn, một công việc hay một nhiệm vụ nào đó.

Khả năng tham gia của lao động kỹ năng trong di chuyển lao động quốc tế và khu vực đề cập đến năng lực của lao động kỹ năng ở các ngành nghề cụ thể và năng lực can thiệp, tác động từ bên ngoài (các quy định pháp lý về di chuyển lao động của AEC và của các quốc gia, cung-cầu lao động nói chung và ở các nghề có thoả thuận công nhận…) để hỗ trợ lao động lao động kỹ năng có thể thực hiện việc di chuyển lao động trên thị trường lao động quốc tế và khu vực.