Khái niệm về tư bản

c.1) Tư bản là quan hệ sản xuất.

Tư bản chính là các công cụ lao động, tư liệu sản xuất. Định nghĩa như vậy nhằm che dấu thực chất việc nhà tư bản bóc lột công nhân làm thuê.
Thực chất tư liệu sản xuất không phải là tư bản mà nó chỉ là một điều kiện cần thiết để sản xuất trong bất cứ một xã hội nào. Tư liệu sản xuất chỉ trở thành tư bản khi nó trở thành vật sở hữu của các nhà tư bản và được dùng để bóc lột lao động làm thuê. Như vậy tư bản không phải là vật mà là mối quan hệ sản xuất nhất định giữa người với người trong quá trình sản xuất.

Từ quá trình tạo ra giá trị thặng dư ta có định nghĩa về tư bản. “Tư bản là giá trị đem lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột công nhân làm thuê”. Tư bản thể hiện mối quan hệ giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Trong đó giai cấp tư sản là người sở hữu tư liệu sản xuất còn giai cấp vô sản là lao động làm thuê bị giai cấp tư sản bóc lột.

c.2) Tư bản bất biến và tư bản khả biến.

Trong quá trình sản xuất các bộ phận khác nhau của tư bản có tác dụng khác nhau. Có bộ phận tư bản thì sử dụng qua nhiều quá trình có bộ phận tư bản lại và tiêu hao toàn bộ và chuyển biến giá trị của nó vào sản phẩm trong một chu kỳ sản xuất.

Trước hết ta xét bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức tư liệu sản xuất. Tư liệu sản xuất có nhiều loại có loại được sử dụng toàn bộ trong quá trình sản xuất nhưng chỉ hao mòn một phần, do đó chuyển giá trị có nó vào giá trị sản phẩm một phần, có loại thì chuyển hết giá trị của nó vào giá trị của sản phẩm.

Từ đó ta có định nghĩa về tư bản bất biến: Bộ phận tư bản biến thành tư liệu sản xuất mà giá trị được bảo tồn và chuyển vào sản phẩm tức là giá trị không biến đổi về lượng trong quá trình sản xuất được C.Mác gọi là tư bản bất biến và ký hiệu là C theo như định nghĩa trên tư bản bất biến bao gồm: Máy móc, nhà xưởng, nguyên vật liệu…

Bộ phận tư bản dùng để mua sức lao động thì lại khác, lao động của công nhân tạo ra lượng giá trị lớn hơn giá trị sức lao động việc làm tăng lượng giá trị giúp cho bộ phận dùng để mua sức lao động không ngừng chuyển hoá từ một lượng bất biến thành khả biến. Từ đó ta có khái niệm về tư bản khả biến.
Bộ phận tư bản biến thành sức lao động không tái hiện ra, nhưng không thông qua lao động trừu tượng của công nhân làm thuê mà tăng lên tức là biến đổi về lượng được C.Mác gọi là tư bản khả biến ký hiệu là V.

Như vậy tư bản bất biến là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất ra giá trị thặng dư còn tư bản khả biến có vai trò quyết định trong quá trình này.