Khái niệm vốn đầu tư

Hoạt động đầu tư là quá trình huy động và sử dụng mọi nguồn vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh nhằm sản xuất sản phẩm hay cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân và xã hội.

Nguồn vốn đầu tư có thể là những tài sản hàng hoá như tiền vốn, đất đai, nhà cửa, máy móc, thiết bị, hàng hoá hoặc tài sản vô hình như bằng sáng chế, phát minh, nhãn hiệu hàng hoá, bí quyết kỹ thuật, uy tín kinh doanh, bí quyết thương mại… Các doanh nghiệp có thể đầu tư bằng cổ phần, trái phiếu, các quyền sở hữu khác như quyền thế chấp, cầm cố hoặc các quyền có giá trị về mặt kinh tế như các quyền thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn thiên nhiên.

Thời kỳ đầu thế kỷ XX, theo quan điểm của LêNin thì loại sử dụng vốn một cách áp đặt dưới dạng đầu tư trực tiếp nước ngoài về thực chất là khoản chi phí mà các nước tư bản bỏ ra để củng cố địa vị trong chiến hữu thuộc địa và cuối cùng là nhằm đạt được lợi nhụân cao hơn.

Theo phân tích đánh giá của LêNin thì sự phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn gắn với lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư banr. Xuất phát từ điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của thế giới lúc bấy giờ mà Lênin cho rằng loại vốn được sử dụng dưới sạng đầu tư trực tiếp nước ngoài là công cụ bóc lột, là hình thức chiếm đoạt của chủ nghĩa tư bản. Và theo quan niệm củaR.Nurkse quan niệm, dù “đầu tư trực tiếp nước ngoài trước hết phục vụ cho lợi ích của các nước công nghiệp xuất vốn chứ chưa phải nước nhận vốn”{32, 26} tuy nhiên là nhân tố quan trọng, là giải pháp tích cực để cho nền kinh tế chậm phát triển có thể “vươn tới thị trường mới”. Mặc dù, đầu tư trực tiếp nước ngoài là nguồn cung cấp một lượng vốn đáng kể cho công nghiệp hoá, cho tăng năng suất lao động, tăng thu nhập…. làm phá vỡ sự khép kín của vòng luẩn quẩn, nhưng nó không phải là tất cả mà nó chỉ phát huy tác dụng khi khả năng tích luỹ vốn bằng con đường tiết kiệm nội bộ của một nước đạt tới mức nhất định. Cũng như R.Nurkes, quan điểm của A. Samuelson coi vốn là yếu tố quyết định đảm bảo cho hoạt động có năng suất cao, hay nói cách khác, vốn là yếu tố có sức mạnh nhất có thể làm cho “vòng luẩn quẩn” Dễ bị phá vỡ. Theo quan điểm của hai ông nhấn mạnh, đa số các nước đang phát triển đều thiếu vốn, mức thu nhập thấp, chỉ đủ sống ở mức tối thiểu, do đó khả năng tích luỹ hạn chế và để “tích luỹ vốn cần phải hy sinh tiêu dùng trong nhiều thập kỷ”. Vì vậy A.Samuelson đặt vấn đề: Đối với nước nghèo, nếu có nhiều trở ngại như vậy như vậy đối với việc cấm thành tư bản do nguồn tài chính trong nước, tại sao không dựa nhiều hơn vào những nguồn vốn nước ngoài?