Khái quát kết quả kinh doanh của các DN kinh doanh xăng, dầu miền Bắc

Trong những năm gần đây, sau cuộc khủng hoảng dầu năm 2011, thị trường dầu thế giới nói chung và thị trường xăng, dầu Việt Nam nói riêng gặp nhiều khăn. Các DN kinh doanh xăng, dầu miền Bắc đã rất lỗ lực trong kinh doanh để vượt qua khó khăn chung. Qua việc sử dụng nguồn dữ liệu đã thu thập được tại các DN kinh doanh xăng, dầu miền Bắc trong thời gian hoạt động trên 5 năm với hoạt động kinh doanh chính là kinh doanh xăng, dầu, tác giả đánh giá khái quát kết quả kinh doanh bình quân của các này qua các chỉ tiêu doanh thu thuần, lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT), lợi nhuận sau thuế.

            Qua số liệu trên bảng 2.3 cho thấy kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh xăng, dầu miền Bắc trong những năm gần đây có sự biết động. Cụ thể:

– Về doanh thu thuần:

DTT những năm gần đây đang có xu hướng giảm với tốc độ nhanh. Nếu như năm 2014 DTT giảm so với năm 2013 là 268 tỷ đồng, tương ứng với tỷ lệ giảm 1,76%. Năm 2016 giảm so với năm 2015 là 4.064 tỷ đồng, với tỷ lệ giảm là 25,89%, năm 2017 giảm so với năm 2016 là 1.919 tỷ đồng, với tỷ lệ giảm là 16,5%. Có thể thấy, DTT của các DN kinh doanh xăng, dầu chịu sự tác động mạnh của giá dầu thế giới. Trong những năm qua, giá dầu thế giới giảm mạnh, tác động lớn tới giá xăng, dầu trong nước. Giá bán các mặt hàng xăng, dầu giảm theo giá dầu đã khiến cho DTT bình quân của các DN kinh doanh xăng, dầu giảm theo. Mặt khác, khi xét DTT của từng nhóm DN theo quy mô vốn, cho thấy trong giai đoạn 2013 – 2017, gần như toàn bộ các DN kinh doanh xăng, dầu đều có DTT giảm, biểu hiện rõ nhất là ở năm 2016 và 2017. Tốc độ giảm DTT của các DN là khá nhanh, được thể hiện qua bảng số liệu sau đây:

Kết quả trên bảng 2.4 cho thấy, trong giai đoạn 2013 – 2017,  DTT của nhóm DN có quy mô vốn trên 1.000 tỷ là nhóm góp phần chủ yếu tạo nên DTT bình quân của các DN kinh doanh xăng, dầu miền Bắc, sự ảnh hưởng của các DN có quy mô vốn trên 1.000 tỷ đồng tới DTT là rất lớn. Cụ thể: Năm 2014 so với năm 2013, DTT của nhóm DN có vốn trên 1.000 tỷ giảm 2,01%, của hai nhóm DN còn lại tăng lần lượt là 3,5% và 2,78%. Trong khi DTT trung bình ở năm 2014 giảm so với năm 2013 (số liệu trên bảng 2.3). Điều này cho thấy, DTT của nhóm DN có vốn trên 1.000 tỷ giảm, làm cho DTT trung bình giảm. Năm 2015 so với năm 2014, DTT của hai nhóm DN có vốn trên 1.000 tỷ đồng và nhóm DN có vốn dưới 500 tỷ đồng tăng với tỷ lệ lần lượt là 5% và 9,38%, nhóm DN có vốn từ 500 tỷ đồng đến 1.000 tỷ đồng có DTT giảm nhẹ với tỷ lệ là 0,58%. DTT bình quân năm 2015 tăng 4,88%,  cho thấy sự giảm nhẹ về DTT của nhóm DN có vốn từ 500 – 1.000 tỷ đồng không tác động mạnh tới DTT bình quân. Năm 2016 so với năm 2015, cả ba nhóm DN đều có DTT giảm mạnh với tỷ lệ giảm lần lượt là 26,77%, 10,13%, 6,84%. So với tỷ lệ giảm DTT bình quân, thấy rằng nhóm DN có vốn trên 1.000 tỷ đồng tác động chủ yếu làm DTT bình quân giảm.

– Về Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT):

Dựa vào số liệu bảng 2.3 nhận thấy, EBIT của các DN có xu hướng tăng với tốc độ nhanh. Cụ thể, năm 2014 tăng so với năm 2013 là 56 tỷ với tỷ lệ tăng tăng là 28,7%. Năm 2016 tăng so với năm 2015 là 164,95% với số tiền là 241 tỷ đồng, năm 2017 tăng so với năm 2016 là 36,28% với số tiền tăng là 176 tỷ đồng. Tuy nhiên, năm 2015 là năm có EBIT giảm sút so với năm 2014 là 108 tỷ đồng, tương ứng với tỷ lệ giảm là 42,42%. Qua đó cho thấy, trong giai đoạn từ năm 2013 đến 2017, kết quả kinh doanh của các DN có xu hướng tốt lên, khoảng cách EBIT của năm 2017 so với năm 2013 ngày càng xa.

Khi xét EBIT của từng nhóm DN theo quy mô vốn cho thấy giai đoạn từ  2013 – 2017, EBIT của các DN có sự khác nhau lớn về mức độ biến động, thể hiện qua bảng sau:

Qua số liệu bảng 2.5 cho thấy, trong giai đoạn 2013 – 2017, tình hình EBIT của các nhóm DN như sau:

Nhóm DN có quy mô vốn trên 1.000 tỷ đồng, EBIT có xu hướng biến động tăng ở những năm 2016, 2017. Cụ thể, nếu như năm 2015 EBIT giảm so với năm 2014 là 47,83%, năm 2016 tăng với tốc độ nhanh, tăng so với năm 2015 là 192,78%, năm 2017 có EBIT tăng so với năm 2016 là 41,55%.  EBIT của các DN có vốn trên 1.000 tỷ đồng đều tăng, tiêu biểu là EBIT của Tập đoàn xăng dầu tăng 321,79%, công ty TNHH Hải Linh tăng 27,84%, công ty TNHH Hóa chất petrolimex tăng 27,84%,…Tuy nhiên, năm 2016, EBIT của các DN tăng với tốc độ chậm hơn so với năm 2016, thậm chí có DN có EBIT năm 2017 giảm so với năm 2016 như công ty xăng dầu Hàng không Việt Nam giảm 34,27%, công ty TNHH Hải Linh giảm 35,24%.

Nhóm DN có quy mô từ 500 – 1.000 tỷ đồng, trong giai đoạn năm 2013 – 2017, có EBIT trung bình biến động tăng ở năm 2015, 2016 lần lượt là 15,9% và 26,57%. Tiêu biểu là công ty TNHH công Minh có EBIT năm 2015 tăng 31,66%, công ty cổ phần vật tư TKV EBIT năm 2015 tăng 69,7%, công ty xăng dầu khu vực 1 có EBIT năm 2014 tăng 49,62%, năm 2015 tăng 18,75%. Tuy nhiên sang năm 2017, các DN có EBIT biến động giảm với mức giảm trung bình là 24,18% so với năm 2016. DN có EBIT giảm nhiểu nhất đó là công ty cổ phần Vật tư xăng dầu Hải Dương giảm 37,47%, công ty TNHH một thành viên Trường Hải giảm 34,27%, công ty xăng dầu Khu vực 1 giảm 26,68%. Bên cạnh những DN có EBIT giảm ở năm 2017, có một số DN có EBIT tăng nhưng mức tăng không cao.

Nhóm DN có quy mô vốn dưới 500 tỷ đồng có giá trị EBIT thấp nhất trong các nhóm DN, trong giai đoạn 2012 – 2016, EBIT có xu hướng tăng dần từ năm 2013 đến năm 2016, EBIT tăng nhiều nhất ở năm 2016, với tỷ lệ tăng 43%. Tiêu biểu là công ty xăng dầu Hà Sơn Bình có EBIT năm 2016 tăng 243,97% so với năm 2015, Công ty cổ phần xăng dầu dầu khí Pvoil Hải Phòng tăng 113,74% so với năm 2014. Năm 2017, EBIT trung bình có xu hướng giảm 11,49% so với năm 2016.

Qua xem xét EBIT từng nhóm DN cho thấy, EBIT của các DN kinh doanh xăng dầu  miền Bắc nói chung ở giai đoạn 2013 – 2017 biến động theo sự biến động của nhóm DN có quy mô vốn trên 1.000 tỷ đồng. EBIT của nhóm DN có quy mô vốn trên 1.000 tỷ đồng năm 2016, 2017 tăng, tác động EBIT bình quân của các DN kinh doanh xăng, dầu miền Bắc tăng. Ngược lại, năm 2015, EBIT của nhóm có vốn trên 1.000 tỷ đồng giảm 47,83%, EBIT bình quân giảm 42,42%. Qua đây cho thấy, vị trí của nhóm DN có vốn trên 1.000 tỷ đồng đối với thị trường kinh doanh xăng, dầu miền Bắc là rất quan trọng.

 – Về Lợi nhuận sau thuế:

Qua số liệu trên bảng 2.5 cho thấy tình hình LNST của các DN kinh doanh xăng, dầu miền Bắc biến động theo chiều hướng tốt. Năm 2014 so với năm 2013 tăng nhanh với tỷ lệ 62,16%, tương ứng tăng 55 tỷ đồng. Năm 2015 so với năm 2014 giảm 62,95% nhưng vẫn đạt mức là trên 52 tỷ đồng. Năm 2016 so với năm 2015 tăng 413%, đây là năm có LNST tăng với tốc độ nhanh nhất trong giai đoạn 2013 – 2017. Năm 2017, LNST tiếp tục tăng so với năm 2016 nhưng tốc độ tăng chậm lại, với tỷ lệ tăng là 43,39%, tương ứng với số tiền tăng là 118 tỷ đồng. Xét riêng từng nhóm DN kinh doanh xăng dầu, các nhóm DN có LNST biến động khác nhau biểu diễn qua biểu đồ và bảng sau:

Dựa vào biểu đồ 2.2 và bảng 2.6, cho thấy nhóm DN có quy mô vốn trên 1.000 tỷ đồng có giá trị LNST lớn nhất trong các nhóm DN kinh doanh xăng, dầu, có sự biến động về LNST nhiều nhất và nổi bật nhất trong ba nhóm. Cụ thể, năm 2013 đạt 227,4 tỷ đồng, đến năm 2017 đạt 1.113,8 tỷ đồng, tăng 390% so với năm 2013. Năm 2015, LNST của nhóm DN có vốn trên 1.000 tỷ đồng giảm với tỷ lệ 71,83% so với năm 2014, các nhóm doanh nghiệp còn lại có LNST tăng. Năm 2016, cả ba nhóm DN có LNST đều tăng, nhóm DN có vốn trên 1.000 tỷ đồng tăng với tốc độ nhanh nhất là 574,74%, đã tác động làm LNST bình quân của miền Bắc tăng với tốc độ 413%. Năm 2017, trong khi hai nhóm DN có vốn từ 500 – 1.000 tỷ đồng và nhóm DN có vốn dưới 500 tỷ đồng có LNST giảm với tỷ lệ lần lượt là 29,56% và 17,45%, nhóm DN có vốn trên 1.000 tỷ đồng có LNST tăng 49,68%, đã góp phần tác động làm LNST bình quân của các DN tăng 43,39%. Qua xem xét LNST của từng nhóm DN, một lần nữa khẳng định sự biến động của các DN thuộc nhóm có vốn trên 1.000 tỷ đồng tác động chủ yếu tới sự biến động chung của các DN.

Mặc dù DTT của các DN kinh doanh xăng, dầu có xu hướng giảm, nhưng EBIT và LNST của các DN lại có xu hướng tăng theo chiều hướng tốt. Cho thấy, trước diễn biến của tình hình kinh tế phức tạp, các DN kinh doanh xăng, dầu  miền Bắc giai đoạn từ năm 2013 – 2017 đã đã không ngừng cố gắng trong mọi hoạt động để đạt được những kết quả kinh doanh rất khả quan.