Khoảng cách giàu nghèo ở nước ta hiện nay

1.         Thực trạng khoảng cách giàu nghèo và những vấn đề đặt ra trong phát triển bền vững

Là một nước mới chuyển sang nền kinh tế thị trường, dưới sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đạt được nhiều kinh nghiệm quý báu từ những thành công và thất bại của mô hình phát triển. Vì vậy, Đảng ta chỉ rõ trong quá trình phát triển, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế luôn luôn gắn liền với thực hiện công bằng xã hội. Sự công bằng xã hội, ở nước ta được thể hiện ở cả khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất và khâu phân phối kết quả sản xuất. Sự công bằng được thẻ hiện bằng việc tạo điều kiện cho mọi người dân đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình, đảm bảo cho người nghèo, những người không may bị dị tật, tủi ro được tiếp cận với những dịch vụ xã hội cơ bản, có khả năng vươn lên hòa nhập vào cộng đồng. Nhờ đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, kinh tế nước ta liên tục tăng trưởng khá cao và ổn định. Nhịp độ tăng GDP bình quân hàng năm giai đoạn 1991 – 2005 là trên 7%/năm. Từ một nước phải nhập khẩu lương thực Việt Nam đã có đủ lương thực cho một đại bộ phận dân cư đảm bảo được an ninh lương thực và đã vươn lên vị trí số 2 trong các nước xuất khẩu lương thực thế giới. Đặc biệt cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển đổi rõ rệt từ ngông nghiệp và dịch vụ. Tỷ trọng GDP năm 2009 nông nghiệp 20,7% công nghiệp 42,3 %, dịch vụ 39,1 %.([1])

Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, các lĩnh vực phát triển xã hội đã được chú trọng, trong đó có vấn đề xóa đói giảm nghèo. Công tác xóa dói giảm nghèo ở Việt Nam nhận được sự quan tâm của các cấp chính quyền, các nghành, các đoàn thể và đoàn thể cộng đồng nên đã trở thành phong trào không chỉ về chiều rộng mà còn cả chiều sâu. Xóa đói giảm nghèo không chỉ mang tính cấp thời mà đã có chiều hướng phát triển bền vững thông qua việc xây dựng các Chương Trình, dự án hướng vào giúp đỡ các hộ nghèo về vốn, công nghệ và cách thưc làm ăn để thoát khỏi nghèo về vốn, công nghệ và các thức làm ăn để thoát nghèo đói một cách cơ bản: Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn cùng dân tộc thiểu số và miền núi (hay còn gọi là trương trình 135), Chương trình hỗ trợ sản xuất, đất đai nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn (Chương trình 134), Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006 – 2007…

Thành công của các trương trình, dự án xóa đói giảm nghèo đã góp phần quan trọng cho việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, bảo vệ môi trường sống và môi trường tự nhiên. Đây là lôgíc của sựu phát triển bền vững: Tăng trưởng kinh tế → xóa đói giảm nghèo → tăng trưởng kinh tế + bảo vệ môi trường → phát triển bền vững → xóa đói giảm nghèo….

Tuy nhiên, do các điều kiện tự nhiên và kinh tế – xã hội. giảm đói nghèo vẫn là một thách thức lớn đối với Việt Nam cả trong hiện tại và tương lai. Trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường, bên cạn những thành công, những tác động tích cực, những mặt trái của cơ chế thị trường đã làm cho sự phân tầng xã hội, sự phân hóa giàu nghèo diễn ra khá sâu ở thành thị và nông thôn. Nếu như những người đói đã giảm đi nhiều, thì những người nghèo, hộ nghèo tương đối vẫn có nguy cơ tăng lên. Sự phân hóa giàu nghèo thể hiện qua mức độ chênh lệch về thu nhập giữa các nhóm dân cư.

2. Khoảng cách giàu nghèo ở Việt Nam đang ngày càng nới rộng

Nếu như phân chia số hộ dân cư thành 5 nhóm thu nhập từ thấp đến cao, ứng với 5 giải phân tầng bằng nhau, mỗi nhóm bằng 20% số hộ thì khoảng cách chênh lệch giữa nhóm hộ giàu và hộ nghèo có xu hướng tăng lên.

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học vừa công bố tại Hội nghị cập nhập nghèo do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức cuối tháng 3-2007: Khoảng cách giữa các nhóm người giàu nhất và nhóm người nghèo nhất đang bị nới rộng một cách liên tục và đáng kể.

Cụ thể năm 1992, hệ số chênh lệch giữa nhóm dân cư có thu nhập cao nhất và nhóm dân cư có thu nhập thấp nhất là 5,6 lần, năm 2006 tỷ lệ này tăng lên 8,38 lần. Do vậy tỷ lệ chi tiêu bình quân đầu người của nhóm giàu nhất trong tổng chi tiêu dùng xã hội tăng từ 41,8% lên 44,7%, trong khi đó nhóm nghèo nhất  lại giảm từ 8,4% xuống còn 7,1% ở cùng thời kỳ.([2])

Sự khác biệt trong chỉ số khoảng cách nghèo giữa nông thôn và thành thị rất lớn, nhưng tốc độ gia tăng trong khoảng cách chi cho tiêu dùng có chiều hướng chậm lại kể tử năm 1998 trở lại đây. Do đó mức độ bất bình đằng ở nông thôn đang tiến gần hơn đến mức độ bất bình đẳng ở thành thị. Một phần nguyên nhân là do di cư từ nông thôn ra thành thị đã tăng mạnh t ừ khi Việt Nam bắt đầu công cuộc đổi mới kinh tế.

Hiện nay, ở Việt Nam đang xuất hiện một nhóm nghèo mới. Đó là do quá trình đô thị hoá khiến người lao động mất đất sản xuất, không kịp chuyển đổi nghề nghiệp và di dân ra đô thị. Họ không có việc làm ổn định, thu nhập thấp, không có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ y tế, giáo dục, đối mặt với nhiều nguy cơ và tệ nạn xã hội và khả năng rơi vào đói nghèo  của nhóm dân cư này là rất cao.

3. Người nghèo vẫn chưa được hưởng lợi nhiều từ hệ thống an sinh xã hội

Theo báo cáo của Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), người nghèo ở Việt Nam vẫn chưa được hưởng lợi nhiều từ hệ thống an sinh xã hội.

Các chuyên gia nhận định, hệ thống an sinh xã hội không tác động ngang nhau lên toàn bộ dân số. Phát triển kinh tế kéo theo nâng cao an sinh xã hội không nâng mọi người lên một mức như nhau. Các hộ trong nhóm thu nhập cao nhất – nhóm 20% giàu nhất nhận được khoảng gần 40% lợi ích an sinh xã hội. Trong khi đó, nhóm nghèo nhất chỉ nhận được chưa tới 7%.

Những người sống ở đô thị có cơ hội hưởng nhiều chính sách an sinh xã hội hơn người sống ở nông thôn, người dân tộc Kinh, Hoa được hưởng lợi nhiều hơn dân tộc thiểu số, sống ở miền Bắc hưởng nhiều an sinh xã hội hơn ở miền Nam.

Như chúng ta biết, an sinh xã hội giúp cải thiện kỹ năng và sức khỏe cho lực lượng lao động quốc gia, từ đó, giúp các doanh nghiệp có tính cạnh tranh hơn. Đồng thời, an sinh xã hội giúp cộng đồng có thể chia sẻ và quản lý được rủi ro kinh tế. Nếu không doanh nghiệp và người lao động dễ bị rủi ro, ít có khả năng đổi mới. Quan trọng hơn, một hệ thống an sinh xã hội tốt có thể giúp người dân tự thoát nghèo và không thể tái nghèo. Nước ta đang cố gắng thực hiện chính sách an sinh xã hội nhằm đảo bảo công bằng nhất, đem lại lợi ích cho toàn dân nhưng thực tế cho thấy, một bộ phận người dân nghèo vẫn chưa thực sự được hưởng những lợi ích mà an sinh xã hội đem lại.

Hiện nay ở Việt Nam, nhóm giàu nhất nhận được 47% lương hưu, còn nhóm nghèo nhất chỉ nhận được 2%. Nhóm giàu nhất nhận được 45% trợ giúp y tế, còn nhóm nghèo nhất chỉ nhận được 7%. Tỷ lệ nhận trợ giúp giáo dục của nhóm giàu nhất và nghèo nhất tương ứng là 35% và 15%[3]. Chuyên gia kinh tế cao cấp Jonanthan Pincus kết luận: nhìn tổng quát, tình hình an sinh xã hội Việt Nam là luỹ thoái.

Ông phân tích thêm, người hưởng lợi ích từ an sinh xã hội của Việt Nam lại là nhóm có thu nhập cao. Bất cứ lợi ích nào mà người nghèo nhận được từ an sinh xã hội lại bị lấy lại bằng cách trả phí sử dụng và các khoản chi tiêu khác cho y tế và giáo dục.

Chính phủ trợ cấp tiền cho các hộ nghèo nhất nhưng lại lấy đúng khoản đó thông qua chi phí sử dụng. “Nếu một bên cho tiền thông qua an sinh xã hội, một bên lấy lại thông qua các khoản phí, lợi ích của người dân thu được sẽ bằng 0, thậm chí, ở con số âm”, ông Pincus nhấn mạnh.

Cũng theo thông tin từ UNDP công bố năm 2008, xét riêng về thu nhập, nhóm 20% giàu nhất có thu nhập gấp 8 lần nhóm 20% nghèo nhất và gấp 2,6 lần so với mức thu nhập bình quân của cả nước. Về an sinh xã hội, nhóm 20% giàu nhất có thu nhập từ an sinh xã hội gấp 10 lần so với nhóm 20% nghèo nhất (660 nghìn đồng so với 70 nghìn đồng).

Cụ thể hơn, xét trên tất cả các thành phần của các chương trình an sinh xã hội (bảo hiểm xã hội cho người đang đi làm và hưu trí, trợ cấp y tế, trợ cấp giáo dục và phúc lợi xã hội) thì hai nhóm người giàu nhất đều được hưởng phần lớn.


([1]) Tổng cục thống kê Việt Nam

([2]) Thông tấn xã Việt Nam

([3]) Việt nam.net