Khu vực kinh tế tư nhân và sự tham gia của khu vực này vào cung ứng hàng hóa công cộng

Khu vực kinh tế tư nhân và động cơ hoạt động của kinh tế tư nhân

* Sở hữu tư nhân và khu vực kinh tế tư nhân

Các hình thức sở hữu là cơ sở, là căn cứ cơ bản để xác định các loại hình kinh tế. Sở hữu là hình thức chiếm hữu của cải vật chất do lịch sử quy định, trong đó thể hiện quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất xã hội. Trên thế giới có hai loại hình sở hữu cơ bản là công hữu và tư hữu. Sở hữu tư nhân đã tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế – xã hội khác nhau. Ở nước ta hiện nay, sở hữu tư nhân được hiểu là sở hữu của cá nhân đối với tài sản hợp pháp của mình; sở hữu tư nhân bao gồm sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư bản tư nhân [58]. Trong đó, sở hữu cá thể là sở hữu của cá nhân trong sinh hoạt, tiêu dùng. Sở hữu tiểu chủ, tiểu thương là sở hữu của những người làm ăn, buôn bán nhỏ. Sở hữu tư bản tư nhân là sở hữu của những cá nhân có hoạt động đầu tư trong lĩnh vực kinh doanh, sản xuất. Như vậy, có thể nói một cách chung nhất, sở hữu tư nhân là sở hữu của cá nhân về tư liệu tiêu dùng và tư liệu sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của cá nhân.

Kinh tế tư nhân là một loại hình kinh tế được hình thành và phát triển dựa trên sở hữu tư nhân về toàn bộ các yếu tố sản xuất được đưa vào sản xuất kinh doanh. Theo quan điểm của Đảng ta tại Hội nghị Trung ương 5 khóa IX: “Kinh tế tư nhân gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân, hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân”. Tuy nhiên, đến nay nước ta chưa có sự thống nhất chung về cách phân chia khu vực kinh tế. Trong các Niên giám Thống kê, Tổng cục Thống kê xếp thành khu vực kinh tế nhà nước, khu vực kinh tế ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Theo Lương Minh Cừ (2011), ở cấp độ khái quát nhất, kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế nằm ngoài kinh tế nhà nước, bao gồm cả doanh nghiệp trong và ngoài nước, trong đó tư nhân nắm trên 50%. Quan điểm của chuyên gia Vũ Hùng Cường (2011) cũng cho rằng khu vực kinh tế tư nhân bao gồm khu vực kinh tế tư nhân trong nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài [26, tr24]. Từ các quan điểm trên có thể khẳng định rằng, theo nghĩa rộng, khu vực kinh tế tư  nhân là khu vực kinh tế bao gồm kinh tế tư nhân trong nước và kinh tế tư nhân nước ngoài kinh doanh trên lãnh thổ một quốc gia. Ở nước ta, khu vực kinh tế tư nhân trong nước bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân. Các loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh của kinh tế tư nhân rất đa dạng gồm hộ cá thể, tiểu chủ và các loại hình doanh nghiệp như doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần tư nhân, công ty hợp danh, công ty cổ phần có vốn nhà nước với 50% vốn điều lệ trở xuống. Kinh tế tư nhân nước ngoài kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam còn gọi là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, bao gồm doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh giữa nước ngoài với các đối tác trong nước. Phạm vi nghiên cứu của luận án về khu vực kinh tế tư nhân bao gồm kinh tế tư nhân trong nước và kinh tế tư nhân nước ngoài đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam.

* Động cơ hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân và vấn đề lợi ích kinh tế

Khu vực tư nhân tham gia hoạt động kinh tế nhằm thu được lợi ích kinh tế. Đây chính là động cơ mạnh mẽ nhất thúc đẩy tư nhân tham gia đầu tư sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Lợi ích kinh tế là lợi ích về vật chất, nó phản ánh mục đích và động cơ khách quan của các chủ thể khi tham gia vào các hoạt động kinh tế – xã hội và do hệ thống quan hệ sản xuất quyết định [39]. Trong thực tế, lợi ích kinh tế thường được biểu hiện ở các hình thức thu nhập như tiền lương, tiền công, lợi nhuận, địa tô, lợi tức, thuế, phí. Lợi ích kinh tế là cơ sở thực hiện lợi ích chính trị, lợi ích xã hội, lợi ích văn hóa. Vai trò động lực của sở hữu tư nhân là vô cùng lớn, như C.Mác nói “Tất cả cái gì mà con người đấu tranh để giành lấy, đều dính liền với lợi ích của họ” [51]. Có thể phân chia hệ thống lợi ích kinh tế thành lợi ích kinh tế cá nhân, lợi ích kinh tế tập thể, lợi ích nhóm, nhóm lợi ích, lợi ích cộng đồng, và lợi ích kinh tế xã hội. Lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp, mạnh mẽ nhất thúc đẩy các chủ thể tham gia một cách tích cực vào các hoạt động kinh tế xã hội. Phương thức chủ yếu thực hiện các lợi ích kinh tế là thông qua chính sách phân phối thu nhập (chính sách tiền lương, lãi suất,…), điều tiết thu nhập (thuế, phí…). Khi các cá nhân, tổ chức hoạt động trong cùng ngành, cùng lĩnh vực, liên kết với nhau trong hành động để thực hiện tốt hơn lợi ích riêng của họ hình thành nên“lợi ích nhóm”. Các cá nhân, tổ chức hoạt động trong các ngành, lĩnh vực khác nhau nhưng có mối liên hệ với nhau, liên kết với nhau trong hành động để thực hiện tốt hơn lợi ích riêng mình hình thành nên “nhóm lợi ích”. Theo Nguyễn Trọng Chuẩn (2015) [37, tr54], lợi ích nhóm tích cực hướng tới và hài hòa với lợi ích xã hội, lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia sẽ thúc đẩy xã hội phát triển. Ngược lại, lợi ích nhóm tiêu cực xung đột với lợi ích xã hội, lợi ích dân tộc và lợi ích quốc gia, tác động tiêu cực tới các hoạt động kinh tế – xã hội, cần phải ngăn chặn. Để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế đòi hỏi nhà nước phải có hệ thống chính sách, luật pháp và các biện pháp đảm bảo kết hợp hài hòa giữa các lợi ích kinh tế. Hài hòa các lợi ích kinh tế là sự thống nhất biện chứng giữa lợi ích kinh tế của các chủ thể, trong đó mặt mâu thuẫn được hạn chế, tránh được va chạm, xung đột; mặt thống nhất được khuyến khích nhằm góp phần thực hiện tốt hơn lợi ích kinh tế- xã hội. Nền kinh tế thị trường có bản chất và động lực cơ bản là chạy theo mục đích lợi nhuận, do vậy dễ dẫn đến hình thành lợi ích nhóm trong tất cả các lĩnh vực để trục lợi, vì thế để phát triển hài hòa giữa các lợi ích kinh tế cần đến vai trò điều tiết của nhà nước.

Ở nước ta thời gian qua khi nói tới “lợi ích nhóm” là nói tới nghĩa tiêu cực và thường gộp chung “lợi ích nhóm” với “nhóm lợi ích” là một. Theo nghĩa này, lợi ích nhóm là một nhóm có quyền lực và vị thế nhất định câu kết với nhau để mưu cầu lợi ích cho các thành viên trong nhóm, nhưng lợi ích này đi ngược lại với lợi ích quốc gia, ảnh hưởng không tốt đến lợi ích chính đáng của đại đa số nhân dân. Nhận thức được vấn đề lý luận lợi ích này hết sức có ý nghĩa để xem xét vấn đề xung đột, mâu thuẫn tại một số trạm BOT ở nước ta thời gian gần đây, đặc biệt trong bối cảnh vấn đề lợi ích nhóm tiêu cực đang diễn ra ở nhiều lĩnh vực. Để ngăn chặn, loại bỏ lợi ích nhóm là vấn đề hết sức khó khăn, phức tạp trong tất cả các lĩnh vực, nhất là trong lĩnh vực đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ.

Sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân vào cung ứng hàng hóa công cộng

* Một số nội dung về cung ứng hàng hóa công cộng và lý thuyết Keynes về vai trò điều tiết của Nhà nước.

Như đã nêu ở mục trước, KCHTGTĐB thuộc về khu vực công và mang tính chất hàng hóa công cộng không thuần túy. Hoạt động của khu vực công là tạo ra những sản phẩm dịch vụ công, cung cấp hàng hóa công cộng phục vụ nhu cầu thiết yếu của xã hội. Xét theo tính chất của dịch vụ có thể chia thành các nhóm sau: (i) Dịch vụ công đặc thù như các dịch vụ công nhằm bảo đảm an ninh, trật tự xã hội,. Loại dịch vụ này do nhà nước độc quyền cung ứng, tư nhân không được tham gia. (ii) Dịch vụ hành chính công như cấp phép, cấp giấy chứng nhận. Loại dịch vụ này do bộ máy hành pháp nhà nước cung ứng trực tiếp cho nhân dân. Các tổ chức, tư nhân có thể tham gia cung ứng ở một số khâu như dịch vụ công chứng. (iii) Dịch vụ sự nghiệp công mang tính xã hội như giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa. Nhà nước có trách nhiệm cung ứng loại dịch vụ này cho dân cư theo nguyên tắc có thu phí, tư nhân có thể tham gia cung ứng thông qua xã hội hóa hoặc ủy quyền. (iv) Dịch vụ công cộng mang tính kinh tế kỹ thuật như GTVT, năng lượng. Đây là những hoạt động công ích nên khuyến khích khu vực tư nhân tham gia, nhà nước đóng vai trò quản lý, điều tiết nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng.

Dịch vụ công là công việc của chính phủ nhằm mang lại lợi ích cho công chúng không vì mục tiêu lợi nhuận, cung cấp hàng hóa công cộng thiết yếu như điện, nước, GTVT cho nhân dân. Hàng hóa công cộng là loại hàng hóa có hai đặc tính cơ bản là không loại trừ và không cạnh tranh. Đặc tính không loại trừ có nghĩa là tất cả mọi người đều có quyền sử dụng và tiêu dùng hàng hóa này dù họ có trả tiền hay không. Đặc tính không cạnh tranh có nghĩa là việc sử dụng, tiêu dùng của người này không làm giảm đi hoặc ảnh hưởng đến tiêu dùng của người khác; chi phí cận biên cho thêm một người sử dụng là bằng không; nghĩa là không cần phải ngăn cản bất cứ ai tiêu dùng, sử dụng loại hàng hóa này. Một hàng hóa công cộng không có đủ hai đặc điểm đó thì được gọi là hàng hóa công cộng không thuần túy. KCHTGTĐB là hàng hóa công cộng không thuần túy bởi nó có đặc tính loại trừ, nghĩa là có thể loại trừ số người sử dụng nếu thấy cần thiết, phương pháp thường dùng để loại trừ là những quy định hành chính hoặc thu kinh phí. Do đó, việc sử dụng, khai thác các công trình hạ tầng đường bộ phải được thực hiện theo nguyên tắc người sử dụng có trách nhiệm trả tiền (dưới dạng các loại thuế, phí) để có kinh phí cho xây dựng, bảo trì công trình.

Nhà nước nào cũng có vai trò cung cấp hàng hóa công cộng như hạ tầng giao thông, thủy lợi, … nhằm thỏa mãn nhu cầu chung của xã hội. Tuy nhiên cơ chế cung ứng hàng hóa công có sự khác nhau ở mỗi nước xuất phát từ quan niệm khác nhau về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế. Đối với mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nhà nước độc quyền, trực tiếp cung ứng các loại hàng hóa công cộng. Trong nền kinh tế thị trường, vai trò và cách thức tác động của nhà nước đối với cung ứng hàng hóa công cộng có sự khác nhau nhất định tùy theo đó là mô hình thị trường tự do hay thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Mô hình kinh tế thị trường tự do theo lý thuyết “bàn tay vô hình” của AdamSmith (1776) hay lý thuyết thị trường tự do của trường phái kinh tế Tân cổ điển, khu vực tư nhân được đề cao một cách tuyệt đối. Nhà nước chỉ thực hiện những chức năng chính như duy trì ổn định chính trị, tạo môi trường pháp lý, chính sách thuế khóa hợp lý mà không nên can thiệp vào các hoạt động kinh tế. Các quan điểm này cho rằng trong môi trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường sẽ đạt hiệu quả Pareto, tức là các nguồn lực được phân bổ tối ưu, có lợi nhất cho cả xã hội. Những hàng hóa công cộng như cơ sở hạ tầng giao thông, các dịch vụ công… không thu hút được tư nhân đầu tư sản xuất kinh doanh, nếu có thì tư nhân đặt giá quá cao hoặc sản xuất quá ít. Khu vực tư nhân không muốn tham gia cung ứng vì lợi nhuận thấp và bất tiện. Nhà nước hầu như không sử dụng công cụ điều tiết hay chính sách ưu đãi nào để thu hút tư nhân đầu tư vào lĩnh vực này. Mặt khác, ngân sách nhà nước không đủ chi đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nên xã hội đã không nhận được sự cung cấp những hàng hóa công cộng một cách tối ưu.

Với mô hình kinh tế thị trường không hoàn toàn tự do, có sự điều tiết, can thiệp của Nhà nước, nhà nước không nhất thiết trực tiếp sản xuất, cung ứng hàng hóa công cộng, có thể thực hiện bằng cách tài trợ cho tư nhân làm, sử dụng những công cụ kinh tế nhằm thu hút khu vực tư nhân tham gia đầu tư. Keynes (1936) [103] nhấn mạnh vai trò của “bàn tay hữu hình” điều tiết nền kinh tế. Nhà nước có thể can thiệp vào nền kinh tế bằng công cụ chính sách tài khóa, thuế, chi tiêu ngân sách Việc chi ngân sách cho

những chương trình kinh tế công cộng, đặc biệt chi đầu tư phát triển vào hạ tầng sẽ tạo thêm việc làm, làm tăng thu nhập, từ đó làm tăng cầu mua sắm, kích thích khu vực kinh tế tư nhân phát triển. Cách thức can thiệp như vậy sẽ dẫn đến gia tăng theo hiệu ứng số nhân cho nền kinh tế. Số nhân đầu tư của Keynes là mối quan hệ tỷ lệ giữa sự gia tăng thu nhập so với gia tăng đầu tư.

Hiện nay, tại các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển cũng như các nước đang phát triển, tư nhân đã và đang tham gia ngày càng nhiều vào lĩnh vực hạ tầng. Đối với các quốc gia đang phát triển, nhà nước có xu hướng sử dụng các chính sách kinh tế thu hút tư nhân tham gia đầu tư phát triển hạ tầng giao thông. Tùy theo vai trò và cách thức điều tiết của nhà nước đối với việc cung ứng hàng hóa công mang sẽ lại những kết quả khác nhau về sự tham gia của khu vực tư nhân vào phát triển kết cấu hạ tầng giao thông.

Trên thế giới có một số mô hình cung ứng hàng hóa công cộng như sau:

Nhà nước cung ứng tài chính và Nhà nước tổ chức cung ứng hàng hóa công cộng. Các doanh nghiệp nhà nước được chỉ định tổ chức sản xuất, cung ứng hàng hóa công cộng dựa trên nguồn vốn tài trợ từ Nhà nước. Các doanh nghiệp thực hiện theo kế hoạch Nhà nước, không vì mục tiêu lợi nhuận. Mô hình này áp dụng ở các nước khối XHCN trước đây như Liên Xô,Việt Nam thời bao cấp…Thực tế đã chứng mính hiệu quả đầu tư, sản xuất, chất lượng hàng hóa công cộng thực hiện theo mô hình này thấp. Mô hình này không phù hợp với nền kinh tế thị trường đang ngày càng phát triển ở nước ta.

Khu vực tư nhân cung ứng tài chính và tự tổ chức cung ứng hàng hóa công cộng (mô hình tối đa hóa vai trò của tư nhân). Nhà nước chỉ đóng vai trò điều tiết việc cung ứng hàng hóa công cộng thông qua các công cụ, chính sách, nhường quyền đầu tư và tổ chức cung ứng cho khu vực tư nhân. Mô hình này được áp dụng ở Mỹ và một số nước Tây Âu. Do việc đảm bảo cung ứng một số loại hàng hóa công cộng còn liên quan tới bảo đảm độc lập quốc gia và mức độ sinh hoạt tối thiểu của cộng đồng nên nhiều quốc gia còn e ngại trong việc áp dụng mô hình này. Đối với nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ở nước ta, mô hình tối đa hóa vai trò của tư nhân này không được khuyến khích áp dụng.

Nhà nước và khu vực tư nhân cùng liên kết cung ứng tài chính và cung ứng hàng hóa công cộng. Hai hình thức chủ yếu của mô hình này là: thứ nhất, Nhà nước cung ứng tài chính và khu vực tư nhân cung ứng hàng hóa công cộng. Nhà nước là chủ đầu tư, chỉ định, đặt hàng hoặc tổ chức đấu thầu cung ứng đối với các doanh nghiệp tư nhân. Thứ hai, Nhà nước và khu vực tư nhân cùng cung ứng tài chính và cung ứng hàng hóa công cộng. Nhà nước và tư nhân hợp tác, liên kết bằng cách đóng vai trò là cổ đông của tổ chức đứng ra cung ứng hàng hóa công. Cả hai hình thức trên đã và đang được áp dụng rộng rãi, trong đó hình thức thứ hai đang trở thành xu hướng phổ biến trên thế giới. Mô hình này, đặc biệt là hình thức thứ hai phù hợp với điều kiện cụ thể ở nước ta, nên mở rộng áp dụng đối với lĩnh vực hạ tầng giao thông, hạ tầng đường bộ.

* Các hình thức tư nhân tham gia vào cung ứng hàng hóa công cộng

Do kinh tế phát triển, nhu cầu về những dịch vụ công ngày càng tăng cao và đa dạng vượt khả năng đáp ứng của ngân sách nên chính phủ nhiều nước đã không ngừng khuyến khích tư nhân tham gia đầu tư. Tùy theo mức độ tham gia, mức độ chia sẻ trách nhiệm, lợi ích cũng như rủi ro của khu vực tư nhân với nhà nước trong việc cung ứng dịch vụ công mà nói lên đó là hình thức tư nhân hóa, xã hội hóa hay hợp tác công tư.

Tư nhân hóa việc cung ứng hàng hóa công cộng

Xu hướng chuyển nhượng cho tư nhân đảm nhiệm một phần hoặc toàn bộ việc cung ứng dịch vụ công xuất hiện ngày càng nhiều ở các quốc gia và gọi đây là tư nhân hóa. Tư nhân hóa việc cung ứng hàng hóa công cộng là sự tham gia của khu vực tư nhân vào việc đầu tư, sản xuất, cung ứng một phần hoặc toàn bộ công việc mà vốn trước đây do khu vực nhà nước thực hiện. Đối với hình thức này, bên tham gia chỉ là khu vực tư nhân (không phải là tất cả các thành phần trong xã hội). Nhà nước sau khi đã chuyển giao việc cung ứng dịch vụ cho tư nhân thì chỉ làm công việc quản lý thông qua các công cụ pháp luật, hành chính, thuế, mọi rủi ro đều do tư nhân chịu. Đối với các dự án hạ tầng cụ thể, hình thức tư nhân hóa này nói lên mức độ tham gia của khu vực tư nhân là rất cao.

Xã hội hóa việc cung ứng hàng hóa công cộng.

Khi nhà nước cho phép, khuyến khích mọi tầng lớp nhân dân tham gia vào công việc cung ứng hàng hóa công cộng, gọi đó là xã hội hóa. Xã hội hóa là sự tham gia rộng rãi của cộng đồng xã hội, của mọi tầng lớp nhân dân một cách tích cực và chủ động vào một lĩnh vực xã hội nào đó, một số hoạt động mà trước đó chỉ có một ngành, một đơn vị chức năng nhất định của nhà nước thực hiện nhằm huy động hợp lý và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực của Nhà nước và của nhân dân nhằm đạt mục tiêu phát triển xã hội. Hình thức xã hội hóa cho phép nhiều thành phần tham gia cung ứng hàng hóa công cộng như tư nhân, cộng đồng, thành phần nước ngoài. Song, trên thực tế do tư nhân chiếm phần lớn trong các thành phần tham gia cung ứng hàng hóa công, nên theo một góc độ nhất định thì khi nói đến xã hội hóa về cơ bản là nói đến tư nhân hóa.

Điểm giống nhau của tư nhân hóa và xã hội hóa là đều nói về quá trình mở cửa một ngành hay một lĩnh vực thuộc sở hữu nhà nước, do Nhà nước nắm độc quyền cho khu vực phi nhà nước. Xét về phương thức tham gia cung ứng hàng hóa công, hai hình thức này vẫn có sự khác biệt nhất định. Trong mối quan hệ giữa nhà nước và bên cung ứng dịch vụ của hình thức xã hội hóa có khác so với tư nhân hóa, đó là Nhà nước không chỉ thực hiện chức năng quản lý mà còn là một bên tham gia có quyền lợi và trách nhiệm rõ ràng. Đối với lĩnh vực kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, xã hội hóa thể hiện ở nhiều nội dung như đầu tư xây dựng, chuyển nhượng quyền khai thác công trình, xã hội hóa Quỹ bảo trì đường bộ.

Hợp tác công tư trong việc cung ứng hàng hóa công cộng. Đây là việc nhà nước và tư nhân cùng thực hiện một dự án lợi ích công thông qua một thỏa thuận PPP nhằm chia sẻ lợi ích, trách nhiệm và rủi ro. Đối tác nhà nước là các tổ chức chính phủ, bao gồm các bộ, ngành, các chính quyền địa phương hoặc các doanh nghiệp nhà nước. Đối tác tư nhân có thể là đối tác tư nhân trong nước hoặc đối tác nước ngoài, là các doanh nghiệp tư nhân, các nhà đầu tư có chuyên môn về tài chính hoặc kỹ thuật liên quan đến dự án. Ngoài ra, mối quan hệ đối tác Nhà nước – Tư nhân cũng có thể bao gồm cả các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức cộng đồng đại diện cho những tổ chức và cá nhân mà dự án có tác động trực tiếp. Hình thức hợp tác công tư thể hiện sự tham gia của khu vực tư nhân nhưng Nhà nước vẫn giữ vai trò đảm bảo trong việc cung ứng hàng hóa công cộng thông qua những ưu đãi, hỗ trợ, cơ chế bảo đảm đầu tư, chia sẻ trách nhiệm và rủi ro đầu tư cùng với nhà đầu tư tư nhân. Đây là điểm khác biệt căn bản so với hình thức tư nhân hóa. Hợp tác công tư thường áp dụng với những dự án có quy mô lớn, thời gian thu hồi dài, nên mức độ cam kết, đồng hành từ nhà nước nhiều hơn so với xã hội hóa, vì vậy phù hợp đối với áp dụng cho lĩnh vực hạ tầng đường bộ.

Nghiên cứu của Phạm Sỹ Liêm (2011) [48] cho rằng ở Việt Nam có nhiều cách nói về việc tư nhân tham gia vào lĩnh vực hạ tầng và cung ứng dịch vụ công như cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; xã hội hóa; đầu tư theo hình thức đối tác công – tư; đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư; doanh nghiệp và nhân dân góp phần cùng nhà nước đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng.