Khuyến nghị đưa ra đối với các CTNY

Tăng cường quản trị công ty tức xây dựng một CTNY có thiết chế, chính sách tốt, tăng cường nhiệm vụ, sự độc lập, quyền hạn, trách nhiệm của HĐQT. Hiện nay,  quy chế quản trị các CTNY xây dựng chủ yếu dựa vào điều lệ mẫu và quy chế quản trị CTNY của Bộ Tài chính. Như vậy, cơ chế quản trị công ty chỉ mới đáp ứng về yêu cầu tuân thủ pháp luật trong quản trị công ty mà chưa có tính hiệu quả trong quản lý, điều hành và giám sát.

Kết quả nghiên cứu ở chương 4 đã chỉ rõ mức độ ảnh hưởng của các nhân tố   đến hành vi gian lận BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam, trong đó nhân tố đặc tính của HĐQT có tác động không nhỏ đến hành vi gian lận BCTC. HĐQT đóng một vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn và kiểm soát được hành vi gian lận BCTC. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng: BGĐ thường lạm dụng quyền hạn để khống chế KSNB. Do đó, BQT cần tăng cường chức năng giám sát và kiểm soát đối với các hành vi gian lận này. Đặc biệt, thiết kế môi trường kiểm soát hiệu quả, tăng cường kiểm soát định kỳ, thiết lập cơ cấu quản trị độc lập giữa HĐQT với Ban điều hành (không tồn tại kiêm nhiệm giữa vị trí Tổng giám đốc và Chủ tịch HĐQT – tránh mâu thuẫn lợi ích trong công ty). Bên cạnh đó, các CTNY  xây dựng năng lực quản trị công ty  tạo lập  môi trường kiểm soát đầy đủ, minh bạch và hiệu lực từ cấp quản trị cao nhất là HĐQT, ban kiểm soát và ban điều hành. Phân tách  chức năng điều hành và chức năng  giám  sát, phê duyệt. Xây dựng hệ thống thông tin quản trị đầy đủ và thông suốt từ cấp trên xuống cấp dưới nhằm hạn chế cơ hội thực hiện hành vi gian lận. HĐQT cần có biện pháp và chế tài xử lý nghiêm cấm các hành vi gian lận trong tổ chức và đối với các cấp quản lý của các CTNY.

Mặt khác, theo kết quả nghiên cứu khi quy mô HĐQT càng lớn sẽ làm tăng khả năng xảy ra hành vi gian lận BCTC. Do đó, các doanh nghiệp nên lập bản điều  lệ cụ thể, phù hợp với đặc điểm doanh nghiệp của mình, nên bổ sung các quy định liên quan đến quy mô HĐQT tối đa. Các cổ đông khi bầu ra HĐQT không nên xây dựng một    Hội đồng quá đông,  theo Jensen (1993), một HĐQT có khoảng bảy thành viên trở lại  sẽ làm quy trình hoạt động đơn giản hơn, giúp các thành viên giao tiếp dễ dàng, hoạt động giám sát và kiểm soát hiệu quả hơn. Sự tham gia của thành viên  HĐQT  có chuyên môn tài chính, kế toán sẽ làm giảm khả năng xảy ra hành vi gian lận BCTC. Vì vậy, trong các thành viên HĐQT độc lập tối thiểu cần phải có một thành viên có kinh nghiệm và chuyên môn về kế toán tài chính. Bằng sự am hiểu chuyên môn sâu giúp thành viên HĐQT độc lập có khả năng phản biện cũng như đề xuất những hoạt động  của Ban điều hành trong việc thiết lập, duy trì và cải tiến hệ thống KSNB. Ngoài ra,   cần giảm thiểu các trường hợp thành viên HĐQT thực hiện điều hành công ty.  Gia   tăng các thành  viên không điều hành trong  HĐQT giúp HĐQT kiểm soát BGĐ tốt  hơn, giảm thiểu hành vi gian lận BCTC. Khi bầu các thành viên của HĐQT,  các cổ đông công ty nên hạn chế chọn lựa các thành viên có mối quan hệ thân tộc. Việc làm này sẽ tránh được sự câu kết của các thành viên trong gia đình vì mục đích tư lợi để giảm khả năng xảy ra hành vi gian lận BCTC.

CTNY cần duy trì, thiết kế và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống KSNB để có thể ngăn ngừa được hành vi gian lận BCTC một cách hữu hiệu.

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng chất lượng hệ thống KSNB đóng một vai trò  quan trọng trong việc ngăn ngừa và phát hiện hành vi gian lận BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam. Thông qua việc tham khảo ý kiến của các chuyên gia, để tăng cường chất lượng hoạt động của hệ thống KSNB cần tập trung vào việc tăng cường   tính độc lập, nhiệm vụ của ban KSNB.

  • Tăng cường tính độc lập trong ban KSNB
  • Trong thực tế cho thấy người quyết định thành viên ban KSNB tại ĐHCĐ là do các thành viên HĐQT và BGĐ. Nhằm tăng cường tính độc lập thật sự cho ban KSNB, ban KSNB sẽ được bầu dựa vào số cổ đông tham dự tại ĐHCĐ, mỗi người là một phiếu bầu. Với phương thức này sẽ loại bỏ sự áp đặt các cổ đông sở hữu nhiều cổ phiếu mà chủ yếu là các thành viên HĐQT và BGĐ. Mặt khác, vì bản thân các thành viên ban KSNB là những người không tham gia trực tiếp vào công việc hằng ngày  hoặc nắm giữ chức danh quản lý của doanh nghiệp, do đó mọi hoạt động của ban  KSNB sẽ hướng đến bảo vệ cổ đông nhiều hơn.
  • Theo quy định hiện nay, các thành viên ban KSNB không nắm giữ chức danh quản lý trong doanh nghiệp, điều đồng nghĩa với việc có thể họ là nhân viên của doanh nghiệp, như vậy phần nào là giảm tính độc lập. Do đó, cần yêu cầu ít nhất 2/3 thành viên ban KSNB là thành viên độc lập, trong đó có trưởng ban
  • Nhằm đảm bảo tính độc lập của ban KSNB, điều 122 luật Doanh nghiệp có quy định “Không phải là vợ hoặc chồng, cha, cha nuôi, mẹ, mẹ nuôi, con, con nuôi, anh, chị, em ruột của thành viên HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác”. Tuy nhiên trong thực tế, theo ý kiến chuyên gia cho thấy tính độc lập của ban KSNB bị vi phạm khi có quan hệ trực tiếp hay gián tiếp về lợi ích  kinh  tế với  thành viên HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác. Do đó, luật doanh nghiệp cần bổ sung điều các thành viên ban KSNB hoặc ít nhất là Trưởng ban KSNB phải là người không có mối quan hệ về lợi ích với các thành viên trên.  Các  thành viên này cần có sự cam kết về việc đảm bảo tính độc lập của mình.
  • Thù lao ban KSNB phải được đề xuất riêng và do ĐHCĐ quyết định, không đưa chung quỹ thù lao HĐQT và ban KSNB. Mặt khác, ban KSNB có quyền đề xuất kinh phí về tư vấn từ bên ngoài khi cần thiết.
    • Tăng cường nhiệm vụ ban KSNB

Theo Thông tư 121/2012/TT-BTC, Bộ tài chính cần trao quyền cho Ban kiểm soát nhiều hơn trong vai trò giám sát quá trình lập và công bố thông tin BCTC. Cụ thể:

  • Giám sát về tính trung thực các thông tin trên BCTC, đặc biệt các thông tin phi tài chính ở góc độ trung thực, hợp lý thông qua việc đánh giá những cơ sở mà từ    đó HĐQT và BGĐ dùng làm căn cứ để đưa ra những nhận định, đặc biệt các phân tích mang tính chất dự báo, nhằm tránh hiện tượng gian lận BCTC
  • Đề xuất lựa chọn CTKT độc lập, mức phí kiểm toán và mọi vấn đề liên quan đến sự rút lui hay bãi nhiệm của CTKT độc lập; Thảo luận với KTV độc lâp về tính chất và phạm vi kiểm toán trước khi bắt đầu việc kiểm toán; Giám sát tính độc lập của KTV độc lập, phương pháp và kế hoạch làm việc của kiểm toán độc lập.
  • Giám sát nhiệm vụ các thành viên HĐQT và thành viên HĐQT độc lập về những định hướng liên quan đến xây dựng và cải tiến hệ thống KSNB cũng như quá trình công bố thông tin nói chung và thông tin BCTC nói riêng .
  • Hệ thống KSNB và quản trị rủi ro không chỉ dừng ở mức độ hình thức mà quan trọng hơn, hệ thống này cần phải được thực thi trong thực tế. Vì vậy, để có thể thẩm định thông tin BCTC, hoạt động của ban KSNB không chỉ đơn thuần thẩm định các thông tin công bố trên báo cáo mà nó phải được thẩm định ngay trong quá trình tạo lập những thông tin này.
  • Nhiệm vụ BGĐ là thực thi các định hướng của HĐQT đặt ra, do đó, ban KSNB cần giám sát BGĐ trong việc thực thi các nghị quyết do HĐQT đề ra.
  • Nhằm tăng cường trách nhiệm và mức độ cẩn trọng của ban KSNB, luật  doanh nghiệp cần bổ sung về trách nhiệm của các thành viên ban KSNB và có những hình thức xử lý trong trường hợp ban này thiếu trách nhiệm giám sát HĐQT và BGĐ gây thiệt hại cho công
  • Ban KSNB cần tham gia những lớp đào tạo ngắn hạn về những kiến thức liên quan đến nghề nghiệp. Kinh phí này được sử dụng từ kinh phí do HĐQT quyết định hàng năm.

CTNY cần tự điều chỉnh để giảm thiểu các nhân tố tác động đến hành vi gian lận BCTC

Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra CTNY phải chịu tác động từ nhiều nhân tố khác nhau. Đối với nhân tố áp lực như áp lực về mục tiêu tài chính, áp lực niêm yết trên TTCK, lỗ từ hoạt động kinh doanh, các CTNY cần có những biện pháp giảm thiểu các áp lực đó bằng cách xây dựng kế hoạch tài chính và kinh doanh trong các giai đoạn   như ngắn hạn, trung hạn và dài hạn cụ thể và chi tiết. Các kế hoạch này phải dựa trên   cơ sở thực tế tại đơn vị và đặt trong bối cảnh chung của nền kinh tế và biến động của ngành nhằm xây dựng một hệ thống chiến lược và kế hoạch tài chính, kinh doanh có tính khả thi, bền vững với mục đích không tạo sức ép đối với BGĐ để điều chỉnh số   liệu nhằm đạt được mục tiêu tài chính từ BQT, kỳ vọng của bên thứ ba. Chiến lược và kế hoạch tài chính và kinh doanh phải được thông báo kế hoạch cụ thể cho các nhà đầu tư, các cổ đông cùng chia sẻ và nắm được tiến trình hoạt động  kinh doanh của đơn vị  để không tạo sức ép đối với BGĐ.

Bên cạnh đó, các CTNY cần đề cao nguyên tắc quản trị đối với tính chính trực của BGĐ và BQT như bộ quy tắc ứng xử – thúc đẩy hành vi trung thực và có đạo đức trong đội ngũ lãnh đạo và nhân viên của đơn vị để giảm thiểu đi các tác nhân thuộc nhóm nhân tố thái độ của nhà quản lý tác động đến hành vi gian lận BCTC. Cần xây dựng hệ thống tiêu chí về chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp, đặc biệt đề cao tính trung thực trong công việc để lựa chọn, tuyển dụng và đánh giá các vị trí trong Ban   điều hành như BGĐ, giám đốc tài chính và kế toán trưởng. Ngoài ra, CTNY cần thiết lập văn hóa chung trong công ty như bộ quy tắc ứng xử nhằm truyền đạt và tăng cường các hành vi trung thực và đạo đức trong công việc, các chính sách phòng chống gian   lận như xây dựng các chính sách và quy trình báo cáo các gian lận nghi ngờ hoặc hỗ trợ/bảo vệ người tố giác, truyền đạt và đào tạo nhân viên nhận thức về gian lận như   giáo dục về bộ quy tắc ứng xử, quy trình báo cáo gian lận và các biện pháp kỷ luật đối với gian lận bị phát hiện.

Ngoài ra, CTNY  cũng cần thường xuyên mời các CTKT có uy tín về kiểm    toán BCTC để  KTV độc lập phát hiện và chỉ ra  hành vi gian lận tiềm ẩn rủi ro.    CTNY  cũng cần thiết lập hệ thống cảnh báo sớm về gian lận BCTC để phòng ngừa    và hạn chế gian lận.