Kiểm soát rủi ro chính trị trong kinh doanh quốc tế

Để  kiểm soát rủi ro chính trị , có 4 cách mà một MNCs có thể theo đuổi : tránh rủi ro, bảo hiểm rủi ro, thương lượng về môi trường và cơ cấu đầu tư.

Tránh rủi ro có nghĩa là không đầu tư kinh doanh ở những nước có sự bất ổn chính trị cao.Trong trường hợp này phân tích rủi ro chính trị là có ý nghiã rất lớn . Ngược lại, bảo hiểm rủi ro lại là một chiến lược chuyển rủi ro sang người khác(eg.,người bảo hiểm tư nhân, FCIA, và OPIC). Chiến lược này sẽ được đề cập đến chi tiết hơn ở phần sau.

Thương lượng môi trường là giải pháp để hướng tới sự thoả thuận nhượng bộ thẳng thắn trước khi cho phép công ty đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Sự thoả thuận như vậy là để xác định quyền và nghĩa vụ của MNCs, của các đối tác nước ngoài của MNCs và chính phủ nước nhận đầu tư.

Về cơ cấu đầu tư, mục đích là để giảm tối đa những nguy cơ tiềm tàng do sự điều chỉnh hoạt động của công ty hay do các chính sách tài chính. Khi việc đầu tư đã được thực hiện , sẽ có một số chính sách để đồi phó với sự bất ổn định. Đó là chính sách như chuyển từ mục tiêu tạo chỗ đứng ở nước đầu tư và có lợi nhuận sang mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận và thay   đổi tỷ lệ lợi nhuận / chi phí. Chính sách tài chính bao gồm các kỹ thuật :

+Giữ các công ty liên doanh hay chi nhánh phụ thuộc vào công ty mẹ về thị trường, nhà phân phối hay cả hai.

+Tập trung nghiên cứu và phát triển cơ sở vật chất và công nghệ độc quyền ở nước mình.

+Tạo dựng một thương hiệu riêng mang tính toàn cầu để nước chủ nhà cùng lắm cũng chỉ lấy đi được phần tài sản hữu hình chứ không lấy đi được tài sản vô hình của công ty.

+Làm chủ về giao thông, vận tải

+Sản xuất sản phẩm ở nhiều nhà máy.

+Thúc đẩy sự hợp tác với bên ngoài.

Rủi ro chính trị còn bị ảnh hưởng bởi khả năng độc lập của công ty. Một chi nhánh sẽ có ít khả năng đó khi yêu cầu về công nghệ, điều hành,quản trị lại nằm trong tầm kiển soát của nước chủ nhà. Trong trường hợp chính phủ có xu hướng can thiệp sâu vào công việc của công ty ,khi đó để tăng tính độc lập công ty có thể phải thực hiện một số hoạt động nhất định. Khi doanh số của chi nhánh lớn hơn của công ty liên doanh

thì MNCs phải dùng việc kiểm soát bán hàng và để giảm sự can thiệp. Một cách đơn giản , khi các chi nhánh ngày càng tăng cường việc xuất khẩu thì  cũng đạt được một kết quả tương tự.

Một nghiên cứu được thực hiện bởi Fagre và wells gần như khẳng định rằng mức độ sở hữu của các chi nhánh nước ngoài tại một nước phản ánh trình độ công nghệ của các nước, phản ánh mức độ mà một MNCs cố gắng cá biệt hoá sản phẩm của mình, phản ánh mức độ xuất khẩu của chi nhánh sang các chi nhánh ở nước khác của MNCs, phản ánh mức độ đa dạng hoá sản phẩm của MNCs và mức độ cạnh tranh của các MNCs khác. Khối lượng đầu tư không ảnh hưởng nhiều đến chính sách sở hữu của chính phủ.

Để đối phó với sự bất ổn định, Mascarenhas đề nghị áp dụng chiến lược  nỗ lực và linh động. Chiến lược để tăng sự kiểm soát được sử dụng để giữ môi trường trước những thay đổi bất lợi. Chiến lược này gồm các kỹ thuật:

+Sử dụng sự hợp tác đã có để kiểm soát việc cung cấp các nguồn lực và sử dụng sự hợp tác sắp tới để kiểm soát thị trường ,đặc biệt một số hay hầu hết các nguồn lực cung cấp và thị trường là ở bên ngoài nước đầu tư.

+Vận động chính phủ có những chính sách ưu đãi.

+Đặt câu  hỏi về thanh toán.

+Sử dụng xúc tiến thương mại để tác động đến người tiêu dùng.

+Tham gia các hợp đồng với người cung cấp đầu vào và người mua các sản phẩm đầu ra.

+Thành  lập cacten với đối thủ cạnh tranh.

Cần phải chú ý rằng một số trong những chiến lược này bị coi là phi pháp ở một số nước.

Tăng tính chủ động , nhất là với kinh phí sẽ tăng khả năng thích nghi của công ty với những biến động của môi trường. Chiến lược này bao gồm:

+Sử dụng một thiết bị để sản xuất nhiều sản phẩm vì vậy giảm được sự phụ thuộc vào một sản phẩm duy nhất.

+Một sản phẩm được bán ở nhiều thị trường.

+Tăng cường xuất khẩu , xin giấy phép kinh doanh,quyền kinh doanh và  các hợp đồng phụ để giảm các nguồn lực vào chi phí cố định và để kéo dài sử dụng tài sản ở nước ngoài.

+Phân quyền quyết định để đạt quyết định nhanh chóng.

+Tránh những cam kết dài hạn bằng cách có chú ý về việc kết thúc trong ngắn hạn.

+Duy trì sự bảo toàn với những tài sản vay đột xuất và chứng khoán phát hành để đối phó tạm thời trước sự biến động của môi trường.

+Thiết lập một hệ thống thông minh để tiếp cận với sự  phát triển của môi trường.

Biện pháp để tối thiểu hoá rủi ro chính trị

Rủi ro chính trị không thể dự báo trước nhưng ít nhất cũng làm giảm được rủi ro chính trị. Có một số biện pháp mà MNCs có thể thực hiện để thuyết phục nước nhận đầu tư không kiểm soát tài sản của họ:

Thúc đẩy kinh tế

Một chiến lược  bảo vệ đầu tư kêu gọi các công ty gắn lợi ích kinh doanh của mình với lợi ích nền kinh tế quốc dân của nước nhận đầ tư. Brazil đã trục xuất ngân hàng Mellon vì ngân hàng này từ chồi hợp tác để tham gia đàm phán  lại về khoản nợ nước ngoại khổng lồ của nước này.

Có thể thúc đẩy kinh tế nước nhận đầu tư bằng một số cách khác nhau. Một cách là công ty mua sản phẩm hay nguyên vật liệu của nước đó để phục vụ cho sản xuất và hoạt động của công ty. Bằng việc trợ giúp  các hãng trong nước công ty có thể phát triển mối liên kết với những người có thể đem lại nhiều mối quan hệ chính trị. Có thể kết hợp với chiến lược này việc sử dụng công ty nhận thực hiện hợp đồng phụ. Chẳng hạn,một số nhà sản xuất xe tăng quân đội cố gắng thực hiện hợp đồng từ  Nethelands bằng việc kí hợp đồng phụ sản xuất xe tăng mới với những công ty của Hà Lan.

Đôi khi sử dụng nguồn lực trong nước là bắt buộc. Chính phủ có thể yêu cầu sản phẩm phải chứa linh kiện sản xuất trong nước, điều này có thể thúc đẩy kinh tế trong nước do : (1)nó  làm tăng nhu cầu về linh kiện sản xuất trong nước, (2) Tiết kiệm ngoại tệ cho đất nước. Đầu tư nhiều hơn nữa vào cơ sở vật chất con làm chính phủ hài lòng hơn nữa. IBM là công ty nước ngoài duy nhất được phép bán tổng đài ở Pháp vì PBXs của hãng được sản xuất tại đây.

Tóm lại , các công ty nên cố gắng giúp nước nhận đầu tư bằng cách theo hướng xuất khẩu.Exhibit 4-3 chỉ ra Marubeni,một hãng của Nhật nhấn mạnh chiến lược này khi quảng cáo nhằm vào thị trường Mỹ. Cả United Brands và Castle và cooke đều có thể phục vụ cuộc cách mạng ở Nicaragua theo chién lược này. Lượng USD họ thu được qua xuất khẩu đã trở  thành thu nhập chính của chính phủ Nicaragua. Vì vậy bảo đảm cho những hoạt động kiểu Mỹ latinh của họ không bị mất đi. AT&T cũng vào được thị trường viẽn thông Pháp bằng cách giúp CGN, nhà sản xuất công tắc bán công tắc kĩ thuật số tại Mỹ.

Tạo thêm việc làm

Các công ty nước ngoài sẽ mắc một sai lầm phải trả giá đắt khi cho rằng công dân của các nước kém phát triển là không lựa chọn được. Công ty không thu được lợi ích gì nếu cho rằng dân của nước nhận đầu tư là lười biếng, không thông minh, không năng động và không có giáo dục,những thái độ như vậy làm công ty sẽ phải lo hết mọi việc. Vì vậy sử dụng lao động trong nước công ty nên dựa vào vị trí lao động.Chẳng hạn, chính sách của United Brands là chỉ thuê người địa phương vào vị trí  quản lý.

Các hãng cũng nên cân nhắc cẩn thận về mức độ ảnh hưởng của tự động hoá ở khu vực có lao động rẻ với tỷ lệ thất nghiệp cao. Tự động hoá là không phù hợp ở ấn độ nơi mà mục tiêu của chính sách của quốc gia   là tạo thêm công ăn việc làm chứ không phải là rút bớt lao động. Chính phủ ấn độ đẵ yêu cầu Lux và lifebouy tự rút khỏi ÂĐ, còn Colgate và Beecham phải cắt giảm hoạt động. Để có thể tạo thêm 15.000 đến 250.000 việc làm mới ,Wimco bị yêu cầu buộc phải từ bỏ việc xây mới 2,700 ngôi nhà. Như vậy là công nghệ cao không phải luc nào cũng được chào đón hay là sự mong đợi của nước nhận đầu tư.

Việc không đủ khả năng để tự động hoá hoàn toàn cũng không gây nhiều bất lợi cho MNCs, như cho thấy cuộc nghiên cứu tại các nhà máy sản xuất thuốc chữa bệnh, thuốc lá, đồ uống ở Đông Nam á nó lại đem lại một số lợi ích. MNCs có thể thu được nhiều lợi ích hơn ở các nước  kém phát triển khi sử dụng công nghệ ở mức trung bình hơn là thiết bị công nghệ cao.Một nhà máy tự động hoá hoàn toàn có thể dễ điều hành hơn cho giám đốc công ty vì họ đã quen với công nghệ cao và là người có khả năng kiểm soát về chất lượng và số lượng sao cho đáp ứng được sự thay đổi của nhu cầu. Nhưng bù lại công nghệ trung bình và bổ xung thêm lao động lại đỡ tốn kém và nâng cao thiện cảm do tạo thêm nhiều việc làm.

Chia sẻ quyền sở hữu

Thay vì một mình kinh doanh, công ty nên cố gắng chia sẻ trách nhiệm với công ty khác, đặc biệt là những công ty trong nước. Biện pháp có thể là chuyển từ công ty tư nhân sang công ty cổ phần, hay từ công ty nước ngoài thành công ty trong nước. Dragon Airline, được xem là một công ty thực sự của Trung Quốc đã yêu cầu cần phải giảm bớt quyền hạ cánh của hãng hàng không Cathay Pacific với lý do đây là một hãng của Anh hơn là của Trung quốc. Lời đe doạ đó đã buộc Cathay Pacific phải phát hành những chứng khoán mới cho các nhà đầu tư Trung Quốc có cổ phần trong công ty. Động thái này là để thuyết phục Hongkong và Trung Quốc rằng hãng có nguồn gốc của Trung Quốc.

Một trong những kỹ thuật quan trọng nhất để chia sẻ bớt trách nhiệm là thành lập một công ty liên doanh. TRong hầu hết các trường hợp, kết quả là sự mất đi một phần quyền kiểm soát nhưng bù lại là lợi ích thu được. Chính sách của United Brands ở Nam á là không chia sẻ bất cứ công việc gì trừ khi liên doanh để giảm bớt rủi ro.

ở một số liên doanh với nước ngoài, không nhất thiết lúc nào đối tác cũng là của nước nhận đẩu tư. Việc hợp tác có thể với một nước khác. Nhiều quốc gia cùng tham gia một công việc không chỉ giảm bớt được khó khăn mà còn làm cho nước nhận đầu tư không thể kiểm soát việc kinh doanh mà không làm ảnh hưởng đến quan hệ với nhiều nước cùng một lúc.Chính sách tình huống ở Nam á là một trong những lý do để Forse chọn việc sản xuất kinh doanh mô tô ở đây với Anglo American. Việc hợp tác này làm giảm phạm vi của Forse ít nhất là 40%.

Đôi khi sự hợp tác đa quốc gia lại đem lại một kết quả trái ngược. Điều này đặc biệt đúng khi một trong những quốc gia đó không có quan hệ tốt với nước chủ nhà.

Một chiến lược khác là viếc tự nguyện nội địa hoá. Chứng minh cho trường hợp này là một đạo luật về quy chế trao đổi với nước ngoài cuả Ân Độ được thông qua năm 1973 để bảo vệ các ngành công nghiệp trong nước. Luật này giới hạn một công ty chỉ đước phép có số vốn nước ngoài chiếm tối đa lầ 40%, ngoại lệ là  những công ty có công nghệ cao và theo hướng xuất khẩu . Cả IBM và Coca-Cola vì thế mà đã ra khỏi Ân Độ năm 1978. Ngược lại,các hãng sản xuất thuốc như Warner lambert  và Parke Davis chấp nhận cắt giảm tỷ lệ của họ.

Nội địa hoá trong hầu hết các trường hợp không phải là mong muốn của các nhà đầu tư vì vậy nó thường là một qui định bắt buộc. Do đó công ty nên có kế hoạch nội địa hoá trước hơn là đợi đến khi nước nhận đầu tư yêu cầu vì đến lúc đó công ty ty sẽ không có động lực và mất đi tính độc lập của mình. Việc làm này được hiểu là một hành động để tỏ thiện chí.Với một chiến lược không ngoan công ty sẽ vẫn giữ được thị trường và công nghệ trong khi cũng chỉ góp vốn theo tỷ lệ.

Quan tâm đến dân chúng

MNCs của Mỹ thường khuyến khích đưa ra nước ngoài những sản phẩm sấu, nhưng điều này là không nên. Một công ty nếu chỉ đơn giản là kinh doanh ở nước ngoài là không đủ mà còn phải có sự hợp tác tốt với công dân nước đó. Để đạt được điều này các MNCs của nên kết hợp dự án đầu tư với dự àn về con người. Điều này ban đầu có thể làm tăng tổng chi phí, nhưng lại có ý nghĩa kinh tế trong dài hạn. ở nhiều nước nhân dân vẫn phải sống trong cảnh khổ sở, thiếu thốn về cơ sở vật chất. Vì thế tốt nhất nên trợ giúp họ xây dựng trường học, đường xá, bệnh viện và hệ thống cấp nước bởi vì những dự án như vậy làm lợi cho cả nước nhận đầu tư và công ty, đặc biệt là về mặt thiện cảm trong thời gian dài.Theo một nghiên cứu của Conference Boards, gần một nửa trong số 200 công ty của Mỹ đã nghiên cứu hoạt động phòng khám chữa bệnh ở nước nhận đầu tư. Union Carbide đã xây một trường kỹ thuật ở Zimbabue trị giá $4_5m, và United Brands theo chính sách này như việc xây dựng nhiều trường học mới. ở nhiều nước kém phát triển thì một số tiền ít cũng có thể đi một chặng đường dài.

Trung lập về chính trị

Vì lợi ích lâu dài tốt nhất cho công ty, là không khôn ngoan nếu công ty để liên quan đến tranh chấp về mặt chính trị giữa các công ty trong nước hay giữa các công ty nước ngoài. Một công ty nên tuyên bố rõ ràng rằng nó không phải là kinh doanh chính trị mà mối quan tâm của nó là về kinh tế theo lẽ tự nhiên.

Đằng sau  quang cảnh  hành lang

Giống như những biến đổi tác động đến hoạt động kinh doanh, rủi ro về chính trị có thể được giả quyết một cách hợp lý. Các công ty cũng như các tập đoàn có những lợi ích khác nhau và mỗi bên muốn đưa ra ý kiến của mình. Khi nghành công nghiệp nấm của Mỹ yêu cầu hạn nghạch chống lại nhập khẩu từ Trung Quốc, Pizza Hut đã đứng ra bảo vệ Trung Quốc bằng cách yêu cầu cho các nhà cung cấp trong nước và nhà cung cấp nước ngoài sẽ không gặp phải tiêu chuẩn kỹ thuật., là một trong những khách hàng lớn nhất của Trung Quốc và là một nhà tiêu thụ 9 triệu tấn nấm để sản xuất bánh Pizza, do vậy thương vụ mua lớn này Pizza Hut đang gặp nguy cơ . Hơn thế nữa, công ty mẹ của nó PepsiCo hy vọng mở một nhà máy tại ở phía Nam Trung Quốc. Do Chính phủ Mỹ xũng muốn củng cố mối quan hệ với Trung Quốc nên lời yêu cầu của nghành công nghiệp nấm Mỹ đã bị từ chối.

Trong thực tế các công ty nên cố gắng tác động đến các quyết định chính trị. Các cuộc triển lãm để Mobil cố gắng tác động đến quyết định là nó sẽ làm lợi cho đối tác của nó. ả Rập. Mặc dù hoạt động của công tybị ảnh hưởng bởi môi trường chính trị. Tác động này không nhất thiết chỉ theo một hướng. Các hoạt động vận động hành lang có thể được thực hiện và sé khôn ngoan nếu vận động hành lang yên lặng đằng sau để không gây ra ồn ào chính trị khôngt cần thiết. Các nhà nhập khẩu phải cho chính phủ của mình biết tại sao hàng nhập khẩu đang chống lại họ và khách hàng của họ, Ví dụ, nhiều đại lý bán lẻ quần áo đã phàn nàn mạnh mẽ khi hàng rào thương mại được dựng lên để chống lại nhập khẩu quần áo. Tương tự, những nhà sản xuất máy tính của Mỹ lên tiếng phản đối hành động của chính phủ nhằm bảo vệ giá của chất bán dẫn sản xuất ở Mỹ bởi vì các công ty này phải chịu bất cứ sự tăng giá nào.

Các công ty không những phải vận động hành lang ở nước của mình mà có lẽ phải vận động hanhg lang ở nước xuất khẩu. Các công ty có lẽ muốn tự đi vận động hoặc để chính phủ làm hộ. Đối với các công ty của Mỹ, chính phủ có thể được yêu cầu gây sức ép tới chính phủ nước ngoài. Khi vấn đề liên quan đòi hỏi sự sung công, các công ty Mỹ có thể dùng luật sửa đổi Hickenlôpẻ 1963. Luật sửa đổi yêu cầu chính phủ mỹ cắt sự trợ giúp của tất cả các quốc gia mà chuyển quyền sở hữu của các công ty Mỹ mà không có sự bồi thường thoả đáng.

Quan sát tình trạng chính trị và mối nguy hiểm

Các nhà thị trường cần phải nhạy cảm trước biến động chính trị. Nên sẵn sàng đối phó với những kế hoạch bất ngờ khi môi trường chính trị chuyển sang thù địch khi đó cần có những biện pháp để giảm nguy hiểm. Một vài ngân hàng lớn và MNCs có những biện pháp làm giảm nguy hiểm  đối phó với nỗi sợ hãi Liên minh đảng Cộng Sản sẽ lên nắm quyền trong cuộc bầu cử 1978 ở Pháp. Mối lo sợ của họ cũng dễ hiểu, bởi vì hầu hết các công ty này nằm trong danh sách quốc hữu hoá của phái tả. Chiến lược bảo vệ của họ bao gồm  tiền vốn ra , chuyển giao bằng sáng chế, và các tài sản khác tới các các chi nhánh ở nước ngoài và bàn cổ phiếu củ công ty cho người nước ngoài và công dân Pháp sống ở nước ngoài.Những hoạt động này một khi được thực hiện sẽ làm cho chính phủ Pháp khó khăn để quốc hữu hoá tài sản của công ty. Để tránh sự trả đũa những hoạt động này phải đựoc giữ yên lặng. Khi những sự kiện đã được sang tỏ, những sợ hãi cũng đúng một phần, Mặc dù đảng Liên minh thắng cử, chính phủ mới rất thực tế và không theo đuổi tích cực sung công trong phạm vi rộng.

Bảo hiểm chính trị

Trong các chiến lược nhằm tránh rủi ro và giảm rủi ro. Các MNCs  có thể sử dụngmột chiến lược để chuyển giao rủi ro. Mức độ bảo hiểm có thể có được từ một số nguồn . Đối với các công ty của Mỹ 3 nguồn chủ yếu là bảo hiểm cá nhân,  OPIC, và FCIA

Bảo hiểm tư nhân

Một số lớn các công ty tự bảo hiểm cho mình. Một kế hoạch tốt hơn là nên làm theo ví dụ của CluB Med bằng cách chuyển rủi ro chính trị cho một bên thứ 3 thông qua mua bảo hiểm chính trị. NBC  đã được một nhà bảo hiểm bồi thường khoản tiền hậu hĩnh khi nó phải trì hoãn chương trình truyền hình Olimpic Games tại Matxcova năm 1980 vì tổng thống Cater đã cấm không cho các vận động viên Mỹ tham dự Olimpic để phản đối việcc Xô Viết đem quân vào Afghanistan .

Mặc dù sung công tài sản chiếm như là lý do phổ biến nhất cho các công ty mua bảo hiểm chính trị. Chính sách bảo hiểm nên bao gồm cả bảo hiểm bắt cóc, khủng bố, và sung công từ từ. Thông tin về hầu hết các công ty bảo hiểm đều rất khan hiếm, bởi vì các công ty  rất thận trọng và không thể cho phép tiết lộ tin tức họ đang tiến hành một việc như là bảo hiểm bắt cóc chản hạn.Vì việc tiết lộ những tin tức này chỉ càng làm khuyến khích các hoạt động đó. Tỉ lệ phí bảo hiểm cho bảo hiểm không thảm khốc điển hình cao hơn gấp 5- 10 lần bảo hiểm thương mại thường. Mức giá cao phản ánh, chỉ có một lượng nhỏ các nhà bảo hiểm tư nhân ỏ Mỹ cũng như là sự thiếu kinh nghiệm thực tế trong tính toán các tỷ lệ đòi hỏi cần có tính kỹ thuật cao trong bảo hiểm. Chỉ có một ít công thức cơ bản . Đối với một nhà thầu xây dựng một bệnh viện ở nước ngoài trị giá 200USD, tỉ lệ phí bảo hiểm sẽ phụ thuộc vào địa điểm xây dựng. Nếu dự án ở Tây Ban Nha , phí bảo bảo hiểm có thể chỉ 1.6 triệu USD. nhưng nếu dự án ở  A Rập- quốc gia có độ rủi ro trung bình thì phí bảo hiểm sẽ gấp đôi và gấp 4 lần nếu ở Libia- quốc gia có độ rủi ro cao.

Phí bảo hiểm có thể được chiết khấu hoặc giảm xuống gần 50% nếu công ty mua bảo hiểm của cùng một công ty bảo hiểm cho hoạt động kinh doanh của mình trên toàn thế giới.

OPIC

MNCs không phải chỉ dựa vào duy nhất các công ty bảo hiểm tư nhân t. Có nhiều cơ quan nhà nước,  phi lợi nhuận có thể cung cấp những loại bảo hiểm  tương tự cần thiết. Một trong những tổ chức đó là OPIC  (Tổ chức Hợp tác Đầu tư tư nhân hải ngoại ) OPIC là cơ quan của Mỹ hỗ trợ phát triển kinh tế thông qua bảo hiểm dầu tư và chương trình tài chính tín dụng. Không giống như AID (cơ quan phát triển quốc tế ) cung cấp sự hỗ trợ giưã 2 chính phủ với nhau. OPIC là một cơ quan theo hướng về hoạt động kinh doanh  , Mục dích của nó là hỗ trợ đầu tư tư nhân của Mỹ. Đã được quốc hội thông qua năm 1981. OPIC  là một tổ chức độc lập, tự lực về tài chính . Tuy nhiên những hợp đồng của nó hoàn toàn được sự giúp đỡ từ chính phủ Mỹ- một người chủ duy nhất. Bộ bảo hiểm và tài chính là 2 bộ chính điều hành hành cơ quan này.

  Các chương trình của OPIC đưa ra  :

  • Dự án của nhà đầu tư là một dự án kinh doanh mới hoặc mở rộng doanh nghiệp đang hoạt động và
  • Dự án đặt tại một quốc gia đang phát triển ở đó OPIC hoạt động và
  • Dự án sẽ hỗ trợ  phát triển kinh tế xã hội của nước chủ nhà
  • Dự án phải được nước chủ nhà thông qua và
  • Dự án phù hợp với lợi ích kinh tế của mỹ và không có ảnh hưởng tiêu cực đáng kể tới nền kinh tế nước mỹ và nhân công Mỹ

OPIC sẽ không hỗ trợ dự án “Runaway Plant ”  ( ví dụ một công ty bị phá sản tại Mỹ thiết lập một công ty ở nước ngoài ở đó sản xuất những sản phẩm hoặc dịch vụ tương tự  và những sản phẩm hoặc dịch vụ này được bán  ở thị trường tương tương tự trước đó) .OPIC cũng không hỗ trợ cho những dự án : Hoạt động kinh doanh bảo hiểm, nhà máy sản xuất rượi, dự án quân sự, dự án gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường.

Chương trình cụ thể

Các tiêu chí đưa ra của OPIC và các chương trình cụ thể của OPIC

Bảo hiểm

  • OPIC chỉ có thể phát hành bảo OPIC hiểm cho những nhà đầu tư có đủ tiêu chuẩn dưới đây

+  Là công dân nước Mỹ hoặc

+  Là các công ty của Mỹ, Các đối tác hoặc các tổ chức kinh doanh khác mà Mỹ sở hữu ít nhất 50% hoặc

+  Các công ty nước ngoài, các đối tác hoặc các tổ chức kinh doanh khác

các nhà đầu tư có đủ khả năng trên chiếm sở hữu 95 %

  • OPIC sẽ bảo hiểm không quá 90% Dự án cộng với thu nhập của dự án. Bởi vậy các nhà đầu tư phải chịu ruỉu ro ít nhất 10% của dự án được OPIC bảo hiểm.
  • OPIC chỉ bảo hiểm chỉ khi mua bảo hiểm do vậy Các nhà đầu tư phải mua bảo hiểm trước dự án kinh doanh được thực hiện và cam kết không huỷ ngang. Chính vì thế các nhà đầu tư được khuyến khích liên hệ với OPIC ngay từ khi lập dự án kinh doanh.
  • Không có một Form cố định cho Bảo hiểm của OPIC.

 

 

Tài trợ

  • Chỉ cho vay vốn trực tiếp đối với những dự án được tài trợ bởi, hoặc những dự án kinh doanh nhỏ của Mỹ
  • Vốn vay được cấp cho

+ Nhà đi vay người Mỹ cổ phần chiếm trên 50%.

+ Các cơ quan nước ngoài mà Mỹ chiếm trên 95%cổ phần

  • OPIC sẽ không mua cổ phiếu của dự án, nhưng có thể mua đồng tiền chuyển đổi và các công cụ vay nợ  .

OPIC hoạt động đa mục tiêu, một trong những mục tiêu xúc tiến đầu tư ở nước ngoài sẽ đóng góp vào sự phát triển kinh tế của các nước thế giới thứ Ba. Những mục tiêu này đòi hỏi OPIC phải xem xet từng mục tiêu kỹ lưỡng  đẻ đảm bảo mục tiêu lâu dài nước chủ nhà (ví dụ Việc làm, tiết kiệm nhập khẩu, đẩy mạnh xuất khẩu , đào tạo, thu nhập thuế.vvv ). Các dự án được phê duyệt phải phục vụ lợi ích của Mỹ : mở rộng ngoại thương , bảo vệ thị trường nội địa, việc làm, tiếp cận nguồn nguyên vật liệu, thu nhập các nhà đầu tư và hỗ trợ cho các quốc gia thân với Mỹ. Bởi vậy, Luật pháp của chính phủ ngăn cấm không cho OPIC giúp đỡ các dự án đầu tư tư nhân của Mỹ mà có thể làm phương hại tới nền kinh tế Mỹ. Trong năm tài chính 1985, OPIC đã từ chói 20 trong số 147 dự án bởi vì chúng có tác động tiêu cực tới Mỹ. Hầu hết các dự án bị từ chối đềuliên quan đến các lĩnh vực kinh tế nhay cẩm như là dệt may, dày dép, điện tử, hoa trag trí. Một trong những dự án như vậy liên quan đến sản xuất giầy dép mà được  làm khung ở Mỹ sau đó chuyển sang nước ngoài để khâu và làm đế bằng vật liệu tổng hợp rồi xuất trở lại Mỹ. Các nhà đầu tư đã tranh luận rằng, Với  phương pháp này ssẽ cho phép họ  đứng vững trong kinh doanh hkhi cạnh tranh với giầy nhập khẩu và anh ta có thể sử dụng nhân công Mỹ.

Tuy nhiên OPIc lại nghĩ khác. OPIC kết luận dự án đó sẽ là thiệt hại tới nhà máy sản xuất giầy dép của Mỹ., do vậy OPIC từ chối loì yêu cầu hỗ trợ.

OPIc đưa ra một vài loại hình hỗ trợ trong đó bảo hiểm rủi ro về chính trị là hoạt động chủ yếu. Các loại hình là

hỗ trợ  khác bao gồm bảo đảm vồn vay, cho vay trực tiếp, cho vay bằng đồng tiền địa phương, tài trợ dụ ấn đặc biệt và tiến hành khảo sát và nghiên cứu khả thi ccá quỹ  cho vay. OPIC đã cho vay gần 1 tỉ USD vay trực tiếp và vay có đảm bảo.

2 dịch vụ hữu ích của OPIC trong lĩnh vực thông tin là  dịch vụ thông tin những nhà đầu tư và ngân hàng các cơ hội kinh doanh (IIS)  Ngân hàng các cơ hội là một hệ thống được vi tính hoá . Nó được sử dụng như một kênh thông tin về đầu tư nhằm tạo thuận lợi cho trao đổi các dòng thôn tin giữa các công ty Mỹ và các nhà tài trợ của cá dự án đầu tưở LDCs.  Cả hai bên đều phải đăng kí những mục đích đầu tư và những yêu cầu đầu tư của mình ( chẳng hạn một công ty Mỹđăng kí loại hình kinh doanh, quốc gia sẽ đầu tư ). Không phải mất phí đăng kí này. Hệ thống thông tin này sẽ xử lý các thông tin để những lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài và và các cơ hội đầu tư nước ngoài gặp nhau. (Thông tin này do các dự án kinh doanh nước ngoài cung cấp để tìm các nhà đầu tư Mỹ). Phí trả cho việc này rất ít.

ISS là một ngân hàng xuất bản các thông tin cơ bản khi một công ty quan muốn quan tâm đến đầu tư ở nước ngoài. các tài liệu được thu thập thành Kit với nhiều Kit khác nhau cho hơn 100 LDCs và 10 khu vực. Những Kít này bao gồm, những vấn đề vè kinh tế, phát luật thương mại, điều luật kinh doanh, tình hình chính trị, các ưu đãi về đầu tư của các nước và khu vực đang phát triển.

OPIC có ba loại bảo hiểm bao gồm bảo hiểm rủi ro về đồng tiền không chuyển đổi, Quốc hữu hoá tài sản ( kẻ cả quốc hữu hoá một phần) và rủi ro hoặc thiệt hại bởi chiến tranh, khởi nghĩa hoặc bạo động, Hình 4-6, 4-7, và 4-8 chỉ các loại hình bảo hiểm của OPIC. Hình 4-9 miêu tả những rủi ro và phí bảo hiểm . Một hợp đồng bảo hiểm thường kéo dài 20 năm. với phí bảo hiểm hàng năm là 1,5 % cho 3 loại  bảo hiểm trên. Bảo hiểm của OPIc rõ ràng hơn bảo hiểm tư nhân.

Hầu hết tất cả các phương tiện đầu tư đề có thể được bảo hiểm. chúng bao gồm cổ phiếu, tiền đi vay,tiền gốc và tiền lãi, bảo đảm thanh toán tiền vay của người vay khác, thu nhập trong các doanh nghiệp nước ngoài, bản quyền tác giả, tiền bồi thường cho các nhà đầu tư với những hợp đôngf hợp tác với chính phủ nướcngoài., tát cả các hình thức thu nhập chính thức hoặc được chấp nhận của các hoạt động đầu tư khác. Đối với các coong ty xây dựng và cơ khí, OPIC  bảo hiểm khi hợp đồng bị phá bỏ và cung cấp bảo hiểm đảm bảo cho đấu thầu và hoạt động băng thư tín dụng khi các quốc gia nước ngoài yêu cầu các công ty Mỹ .

Từ khi OPIC thành lập, cơ quan này đã chi hơn 28 tỉ USD bảo hiểm chính trị. Hình 4-10 chỉ rõ số lượng bảo hiểm hang năm. Dịch vụ của OPIC rất có giá trị. Nhiều quốc gai có thu nhập thấp hoặc các quốc gia kém phát triển đề kí hiệp định sử dụng các dichj vụ của OPIC. cho đến nay có hơn 87 quốc gia và 2000dự án đầu tư sử dụng các dịch vụ của OPIC. Chẳng hạn, OPIC đã cấp 225 ttriệu USD cho bảo hiểm quốc hữu hoá và bạo động chính trị cho 20 côngty Mỹ đang hoạt động ở  Trung quốc.

Rất nhiều các nghành công nghiệp thu được lợi từcác chương trìn cảu OPIC từ sản xuất nông sản và hoá chất đến ngân hàng và xây dựng lớn. Các công ty thành công trong kinh doanh mạo hiển đều được sự hỗ trợ từ OPIC bao gồm Ford ở ấn Độ (bảo hiểm ), Hormel ở Philipin (bảo Hiểm ), Black and Decker ở Namtư (bảo hiểm),Dresser ở Trung Quốc (bảo hiểm), Owen-Illinois ở Ai cập (bảo Hiểm), Union carbide ở SuĐăng (bảo hiểm ), Squibls ở Pakítan (bảo hiểm đồngvà tiền  địa phương, Agro-Tech international ở Đôminica (Vay trực tiếp ).

Theo Douglas và  Craig , rủi ro chính trị bao gồm 4 yếu tố : (1) Sự bất ổn định trong nước (e.g ., sự bạo loạn , thanh trừng , ám sát …) , (2)  xung đột với nước ngoàI  (e.g ., trục xuất cán bộ ngoại giao , bạo lực vũ trang …) , (3)   Tình hình chính trị (e.g .,vị trí của Đảng cộng sản , số ghế của các nhà xã hội học trong cơ quan lập pháp ) và (4) Tình hình kinh tế (e.g ., GNP, mức nợ nước ngoàI và những khó khăn khác ).

Đối với nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ ,  thì tự họ phải phân tích rủi ro chính trị của một nước là không thể được do những yêu cầu về kinh phí , chuyên gia và một số nguồn lực khác. Tuy vậy vẫn có một số giải pháp có thể cung cấp những đánh giá có ích về rủi ro chính trị . Một là phỏng vấn những người hiểu biết hay có kinh nghiệm ở đất nước đó , bao gồm những nhà kinh doanh , chủ ngân hàng hay các quan chức chính phủ. Có thể có sự lựa chọn khác là sưu tập những bàI viết về vấn đề này. Bài viết có thể tham khảo là về tỷ xuất cho vay của một nước được cấp bởi tạp chí Institutional Invester. Dựa trên cuộc nghiên cứu 100 ngân hàng đứng đầu các quốc gia vế số vốn đI vay của nước đó, về nguy cơ không trả được nợ và xếp hạng 100 quốc gia đó cứ 6 tháng một lần .Những ngân hàng lớn ,có hệ thống phân tích tinh vi phảI đảm nhiệm nhiều phần việc hơn . Về các khoản nợ của ngân hàng Mỹ hay Continental Banks thì phân tích rủi ro đương nhiên là phảI sử dụng hệ thống của các ngân hàng lớn nhất thế giới.

Một giảI pháp khác tương đối đơn giản là căn cứ vào LIBOR(tỉ suất cho vay của hệ thống liên ngân hàng của Luân Đôn ) . Tỷ suất LIBOR là tương đồi an toàn vì nó là lãI xuất trả cho các khoản vay giữa các ngân hàng. Người muốn vay không phảI là một ngân hàng tất nhiên sẽ phải trả mức phí cao hơn LIBOR, mức chênh lệch đó (chênh lệch giữa tỷ suất vay và LIBOR) cho biết mức độ rủi ro bao gồm.Nếu người vay từ nước có rủi ro không trả được nợ cao phải chịu một mức phí cao hơn. Vì vậy mức phí này có thể là dấu hiệu để nhận biết rủi ro vì nó phản ánh đánh giá của người cho vay về nước đó về các mặt mức nợ nước ngoài ,tình hình trả nợ. Vì các khoản nợ là không thích hợp để so sánh , sự điều chỉnh là về số lượng và mức bão hoà.Do đó tạp chí Euromoney đã đưa ra một công thức cho phép tính sự đIều chỉnh này và công thức để tính Chỉ số lãI suất kinh doanh ngoạI tệ của một nước (spread index)  là :

[ (volume ´ spread ) + Euromoney index] + (volume ´ maturity)

Bằng cách đơn giản xem xét chỉ số kinh doanh ngoạI tệ của một nước và so sánh với chỉ số của nước khác , kết hợp với mức lãi suất , một nhà đầu tư có thể rút ra kết luận về độ rủi ro của nước đó. Khi các phương pháp để đánh giá rủi ro chính trị trở nên tinh vi hơn, đã có có sự thay đổi trong cách tiếp cận từ những khái niệm ban đầu và định tính sang cách tiếp cận về dịnh lượng và các yếu tố phát sinh trong nghiên cứu ứng dụng. Tuy nhiên cần có sự kết hợp giữa hai cách này. Ông Simon giảI thích trong điều kiện tăng áp lực lên kết quả ứng dụng , không có gì là ngạc nhiên nếu cả hai lý thuyết trên đều không cho kết quả. Ngoài lý thuyết , mỗi tình huống rủi ro mới xuất hiện có xu hướng được xem là chỉ liên quan tới một nước , sẽ không có một nỗ lực nào để sửa chữa và nó sẽ lan tới khắp các nước . Vì moõi nước là một phần của hệ thống quốc gia và toàn cầu phụ thuộc lẫn nhau, những nước phụ thuộc nhiều thường mất cơ hội để đánh giá rủi ro chính trị .Vì vậy , cần có một khung đánh giá chung cho 4 yếu tố môI trường cơ bản (nước nhận đầu tư, nước đầu tư, trường quốc gia , trường quốc tế ) mà một MNCs phảI hoạt động.

Nói chung trong khi các nhà đầu tư tư nhân có khả năng tiếp cận các mặt thương mại của hoạt động kinh doanh ở nước ngoài thì họ lại có vẻ khá dè dặt trong việc tiến hành các hoạt động đầu tư ra nước ngoài vốn là do sự không ổn định về chính trị của các quốc gia đang phát triển. Để làm giảm bớt sự không chắc chắn này, OPIC đã bảo hiểm cho các hoạt động đầu tư của Mĩ đối với 3 loại rủi ro chính trị chính sau:

Tính không chuyển đổi thành vàng

Việc bảo hiểm này sẽ giúp các nhà đầu tư giải quyết vấn đề về khả năng không chuyển đổi được sang đồng USD của đồng tiền quốc gia thu được từ các khoản lợi nhuận, tiền lương, hay các khoản hoàn vốn từ hoạt động đầu tư. Việc bảo hiểm của OPIC đối với khả năng không chuyển đổi cũng bảo vệ các nhà đầu tư chống lại những tỉ giá hối đoái có phân biệt đối xử bất lợi đối với họ. Việc chuyển đổi từ đồng tiền quốc gia sang đồng USD chỉ được đảm bảo trong phạm vi số lượng mà đồng tiền đó có khả năng chuyển đổi sang USD khi việc bảo hiểm có hiệu lực. Tuy nhiên việc bảo hiểm này không bảo vệ các nhà đầu tư chống lại sự phá giá của đồng tiền quốc gia.

Việc sung công quĩ

Việc bảo hiểm rủi ro này sẽ bảo vệ các nhà đầu tư chống lại việc tịch thu hoặc quốc hữu hoá các hoạt động đầu tư mà không có sự đền bù xứng đáng. Bảo hiểm xung công cũng bảo vệ các nhà đầu tư chống lại những tổn thất bắt nguồn từ các tình huống khác nhau được miêu tả như là ‘sự sung công từ từ’ đó là hàng loạt những hành động  mà ảnh hưởng từng bước của nó là tước đoạt dần dần những quyền lợi cơ bản của các nhà đầu tư. Những hành động sung công do sự xúi giục hay khích động của các nhà đầu tư sẽ không được bảo hiểm.

Chiến tranh, cách mạng, khởi nghĩa và xung đột thông thường.

Việc bảo hiểm này sẽ bảo vệ các nhà đầu tư chống lại những tổn thất do chiến tranh ( tuyên chiến hoặc không), cách mạng hoặc khởi nghĩa. Thêm vào đó, bảo hiểm cũng có hiệu lực đối với những tổn thất do những xung đột thông thường_ những hành động bạo lực có động cơ chính trị bao gồm khủng bố và phá hoại. Bảo hiểm xung đột thông thường chỉ được xem như một điều khoản thêm vào phần bảo hiểm chiến tranh, cách mạng, khởi nghĩa của OPIC. Những tổn thất do một cá nhân hoặc một nhóm tiến hành nhằm đạt được mục đích phi chính trị như những mục tiêu liên quan đến học sinh sinh viên hay người lao động sẽ không được bảo hiểm.

Mức phí đối với việc bảo hiểm của OPIC dựa trên bản chất của hoạt động đầu tư và mô tả sơ lược những rủi ro của dự án chứ không dựa trên địa điểm tiến hành dự án.  Mặc dù có những tỉ lệ khác nhau có thể áp dụng cho các bảo hiểm mang tính chuyên dụng, tỉ lệ bảo hiểm sau đây là điển hình cho nhiều dự án