Kiến nghị nhằm hoàn thiện việc xin và cấp giấy chứng nhận xuất xứ (C/o) ở Việt Nam

Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt nam nói chung và Thương mại quốc tế nói riêng

Việt nam đang đứng trước nhiều thách thức khi tham gia vào AFTA và WTO. Trước những thời cơ mới Việt nam sẽ phải lựa chọn chiến lược phát triển phù hợp, Việt nam cần phải đạt một tốc độ tăng trưởng cao, hiệu quả bảo đảm bước tiến vững chắc theo quan điểm phát triển bền vững, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Các mục tiêu của chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – xã hội mà Việt nam cần thực hiện và thực hiện vượt mức đó là: đạt tăng trưởng kinh tế nhanh (9-10% năm), giải quyết những vấn đề bức xúc của xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, cải thiện đời sống của nhân dân, nâng cao tích lũy từ nội bộ nền kinh tế, tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển cao hơn vào đầu thế kỷ XXI. Việt nam có chiến lược xây dựng thành công một nước công nghiệp như nhiều nước công nghiệp mới (NICs) đã đạt được, tức là về cơ bản thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo những tiêu thức phù hợp với thời đại. Chiến lược phát triển thương mại quốc tế cũng là một phần quan trọng trong chính sách kinh tế xã hội của Việt nam. Việt nam cần “ đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là hướng ưu tiên và là trọng điểm của kinh tế đối ngoại. Nâng sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu trên thị trường, tạo thêm các mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Giảm tỷ trọng sản phẩm thô và sơ chế, tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu và tinh trong hàng xuất khẩu, tăng nhanh xuất khẩu dịch vụ. nâng cao tỷ trọng phần giá trị gia tăng trong trị giá hàng xuất khẩu. Giảm dần nhập siêu, ưu tiên việc nhập khẩu để sản xuất phục vụ xuất khẩu…

Chủ động tham gia vào cộng đồng thương mại thế giới, các diễn đàn, các tổ chức, các định chế quốc tế một cách có chọn lọc, với bước đi thích hợp..”

Theo đó, các hoạt động của nền kinh tế cũng phải đổi mới, biến chuyển theo. Đặc biệt, hoạt động quản lý kinh tế ở tầm vĩ mô cần được hoàn thiện ở bình diện rộng, chính xác và năng động hơn, còn hoạt động ở tầm vi mô cần phải có công nghệ ngày càng tiên tiến, vốn đầu tư có hiệu quả và nắm được sự thay đổi của chính trị xã hội, luật pháp, kinh tế của nước mình nói riêng và của thế giới nói chung.

Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện việc xin cấp C/O ở Việt nam.

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam do không trực thuộc một Bộ nào cả, hoạt động theo phương thức phi Chính phủ, phi lợi nhuận, là đại diện và là nơi trao đổi giữa doanh nghiệp và các Cơ quan quản lý của Chính phủ và cũng chính là nơi thu nhận các yêu cầu, đòi hỏi của các doanh nghiệp về mặt pháp luật để đệ trình lên Chính phủ để Chính phủ có những biện pháp, chính sách giải quyết thỏa đáng nhất. Hoạt động cấp C/O là hoạt động chính của Ban pháp chế thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam.Tuy số lượng cấp C/O hàng năm không nhiều so với lượng hàng hóa của Việt nam xuất khẩu trong năm nhưng những hàng hóa được ưu đãi lại làm cho hàng hóa của Việt nam có sức cạnh tranh cao, mở rộng thị trường.

Xuất phát từ tình hình cấp C/O ở Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam (dựa trên các ưu điểm và nhược điểm), đồng thời dựa trên các ý kiến đóng góp của các cán bộ cấp C/O của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam có thể đưa ra một số kiến nghị nhằm mục đích nâng cao hiệu quả cấp C/O và cải tiến một số thủ tục hành chính trong hoạt động cấp C/O.

Hoạt động cấp C/O chủ yếu dựa vào việc đặt hàng của các nhà nhập khẩu ở các nước cho Việt nam hưởng ưu đãi thuế quan trong chế độ GSP. Các nhà nhập khẩu thường tìm hiểu và khi đàm phán ký kết hợp đồng thường đưa ra điều kiện hàng hóa phải đáp ứng tiêu chuẩn xuất xứ của GSP  cho các nhà xuất khẩu Việt nam (không đề cập tới các mặt hàng thuộc các Hiệp định ký kết giữa Chính phủ Việt nam và Chính phủ các nước để đưa ra hạn ngạch xuất nhập khẩu). Các doanh nghiệp của Việt nam nếu nắm chắc được tỷ lệ thuế nhập khẩu của nước mua hàng, tính toán lời lỗ để đi đến ký kết hợp đồng chấp nhận điều kiện có cung cấp C/O cho mặt hàng đó không. Sau khi hoàn thành bộ chứng từ, doanh nghiệp Việt nam có thể đến Cơ quan cấp C/O để xin cấp C/O cho lô hàng. Cơ quan cấp C/O sau khi kiểm tra bộ chứng từ nếu hợp lệ sẽ xác nhận vào giấy chứng nhận xuất xứ (C/O), lưu 01 bản gốc. Như vậy để hoàn thiện hoạt động xin và cấp C/O nói chung các biện pháp đưa ra đòi hỏi không chỉ ở Cơ quan quản lý và cấp C/O mà còn đỏi hỏi các doanh nghiệp Việt nam phải có những biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình cũng như những kiến thức về C/O nói chung.

Giải pháp với các doanh nghiệp xin cấp C/O.

Các doanh nghiệp xin cấp C/O vẫn thường mắc phải các lỗi như: khai sai, khai không chính xác, khai thiếu, sử dụng sai loại tờ khai hoặc không biết khai như thế nào là đúng. Để tránh tình trạng trên các doanh nghiệp cần có các cán bộ chuyên môn nắm chắc các vấn đề về C/O.

Doanh nghiệp nên trích một phần lợi nhuận vào chi phí đào tạo các cán bộ chuyên trách về sử dụng C/O. Cử cán bộ tham gia các khóa đào tạo, hội thảo về hướng dẫn sử dụng C/O hoặc các quy chế mới ban hành của các nước cho hưởng ưu đãi do Cơ quan quản lý và cấp C/O tổ chức. Việc theo học các lớp “bổ túc kiến thức “ này không chỉ học về quy tắc xuất xứ GSP, nắm vững các tiêu chuẩn xuất xứ với hàng hóa để được hưởng GSP mà còn phải học cách thực hành. Khai đúng, đủ, chính xác các loại form có trong GSP. Các quy định trong GSP rất phức tạp, bởi mỗi một nước cho hưởng ưu đãi thuế quan đều có những quy định chung như nhau nhưng cũng có những quy định riêng phù hợp với tình hình thị trường cũng như sự phát triển kinh tế chung của nước đó. Do vậy nếu doanh nghiệp hiểu biết được đầy đủ về 15 chế độ sẽ là điều kiện cần cho quá trình tham gia đàm phán ký kết hợp đồng với bạn hàng nước ngoài tránh những sai sót, thiệt hại về kinh tế cho công việc kinh doanh của mình.

Áp dụng các kiến thức hiểu biết về C/O các cán bộ chuyên môn còn có thể nghiên cứu tình hình sản xuất của doanh nghiệp; đối với những mặt hàng đã đủ tiêu chuẩn xuất xứ có thể thông qua cách đánh mã số hàng hoặc cách xắp xếp hàng hoá trong từng chương để hàng hoá đó được hưởng mức thuế ưu đãi cao hơn ví dụ như cái bàn được làm từ mây tre có thể được xếp vào hai chương khác nhau (chương bàn ghế vật dụng trong nhà và chương các sản phẩm từ mây tre) và được hưởng hai mức thuế khác nhau. Vậy khai cái bàn này ở chương nào để được hưởng mức thuế thấp đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp là phụ thuộc vào trình độ hiểu biết của các các bộ của doanh nghiệp; đối với những mặt hàng nào chưa đáp ứng được tiêu chuẩn xuất xứ thì phải tìm cách đẩy mạnh sản xuất, nâng cao chất lượng để đưa mặt hàng đó vào danh mục các loại hàng hóa được hưởng ưu đãi bằng cách kiến nghị lên ban lãnh đạo công ty để có kế hoạch đầu tư cho doanh nghiệp, tăng hàm lượng nội địa của sản phẩm hoặc thực hiện quá trình gia công chế biến để làm thay đổi tính chất cơ, lý, hóa học của nguyên liệu, sản phẩm hoặc áp dụng biện pháp cộng gộp……qua đó hàng hóa này mới có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Trong quá trình ký kết hợp đồng với bên nhập khẩu nước ngoài, ngoài những hiểu biết sơ đẳng và cần thiết về chế độ GSP của nước nhập khẩu, doanh nghiệp cũng cần nắm vững mức thuế ưu đãi và cách tính thuế, cách tính lời lãi từ ưu đãi thuế quan so với không được ưu đãi thuế quan của cùng một sản phẩm xuất khẩu đó để chủ động trong việc nâng giá bán hoặc nâng giá gia công cho sản phẩm của mình trên nguyên tắc hai bên cùng có lợi. Thông thường mức đàm phán nâng giá hàng trên 1 đơn vị sản phẩm có thể được xác định như sau (coi giá trị tính thuế là giá là giá ghi trong hóa đơn thương mại).

Công thức nâng giá hàng này có thể hiểu như sau:

Trong trường hợp hàng hóa thuộc diện được hưởng ưu đãi thuế quan của nước nhập khẩu, mức đàm phán nâng giá hàng cho phép nằm trong giới hạn của tỉ số giữa tích của giá bán thị trường (giá ban đầu của sản phẩm) và mức ưu đãi thuế quan (chênh lệch giữa thuế suất ưu đãi và thuế xuất MFN) với thuế suất  ưu đãi ”.

Như vậy nếu thuế suất ưu đãi càng thấp so với thuế suất MFN (thuế suất bình thường chưa ưu đãi) thì mức ưu đãi càng lớn. Dựa vào sự chênh lệch đó, doanh nghiệp xuất khẩu có thể đàm phán nâng giá hàng lên cao hơn mà không ảnh hưởng đến tính cạnh tranh của hàng hóa của doanh nghiệp so với các sản phẩm cùng loại khác không được hưởng ưu đãi. Trong trường hợp thuế suất ưu đãi bằng 0 – có nghĩa là được miễn thuế, tổng số tiền hàng nhập khẩu mà người nhập khẩu thanh toán chính là số tiền mà người bán được hưởng. Đối với những trường hợp này doanh nghiệp có thể nâng giá hàng bằng mức số tiền thuế mà người nhập khẩu phải nộp nếu họ mua hàng từ nước khác không được hưởng ưu đãi. Công thức đàm phán nâng giá lúc này sẽ là:

X < ab1

Tất nhiên các công thức nêu trên chỉ để cho nhà xuất khẩu tham khảo, tính toán lợi ích khi đàm phán ký kết hợp đồng nhưng kết quả đàm phán có đạt được kết quả hay không còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khác như mức nâng giá có hợp lý không, có sự tương quan giữa người bán và người mua không, người mua có thích các sản phẩm của người bán không….(ở đây ta không đề cập đối với những mặt hàng đã có uy tín lớn trên thị trường thế giới).

Bất kỳ một doanh nghiệp nào tham gia vào thương mại quốc tế đều cần có những quan hệ kinh tế cần thiết. Để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp Việt nam cần mở rộng các mối quan hệ kinh doanh với các nước khác trên thế giới đặc biệt là với các nước cho hưởng ưu đãi. Đối với các nước cho phép sử dụng tiêu chuẩn xuất xứ bảo trợ thì doanh nghiệp nên tận dụng điều kiện này để có được những nguyên phụ liệu từ những nước này nhằm giảm tỷ lệ phần trăm nguyên phụ liệu nhập khẩu. Quan hệ kinh doanh với các doanh nghiệp của các nước trong nhóm ASEAN sẽ giúp doanh nghiệp Việt nam sử dụng tiêu chuẩn xuất xứ cộng gộp.

Thực vậy, theo quy định của GSP ở một số nước, nếu không thể tìm được đủ nguồn nguyên phụ liệu trong nước phục vụ cho sản xuất sản phẩm xuất khẩu, doanh nghiệp nước xuất khẩu có thể nhập nguyên phụ liệu từ chính nước nhập khẩu (nước cho hưởng ưu đãi) phục vụ cho công việc sản xuất của mình và để khi xuất khẩu trở lại các thành phần nhập khẩu được tính vào giá trị hàm lượng nội địa để xác định tính xuất xứ của sản phẩm, như vậy doanh nghiệp không mất nhiều thời gian để đi tìm nguyên phụ liệu đó ở trong nước mà còn cùng một lúc thực hiện được hai việc đó là “ vừa mở rộng được các mối quan hệ kinh doanh thương mại lại vừa đạt được mục đích kinh doanh của mình ”.

Riêng với các doanh nghiệp sản xuất giày dép, dệt may… đã được cấp C/O form A trước đây (mặc dù hàng hóa chưa đủ tiêu chuẩn để hưởng C/O form A). Để tránh những khiếu nại gây bất lợi cho cơ quan cấp C/O cũng như uy tín của Việt nam trên trường quốc tế, các doanh nghiệp Việt nam cần phải nắm vững những quy định về tiêu chuẩn xuất xứ cho sản phẩm giày dép của mình khi xuất khẩu sang các nước cho hưởng ưu đãi để từ đó tìm ra phương hướng, biện pháp khắc phục như đầu tư thêm trang thiết bị, mở rộng khả năng sản xuất, tăng dần hàm lượng nội địa của sản phẩm, đặc biệt có thể thay thế toàn bộ các bộ phận trước đây vẫn phải nhập khẩu như đế giày, gót giày, da sống, vải giả da, sợi.. bằng các sản phẩm mới được sản xuất ở trong nước. Có như vậy thì sản phẩm mới đạt tiêu chuẩn xuất xứ form A. Việc này sẽ đem lại hai lợi ích cho doanh nghiệp:

Một các sản phẩm hiện tại của doanh nghiệp khi xuất khẩu vẫn tiếp tục

được cấp C/O form A.

Hai là các sản phẩm đã xuất khẩu trước đây (khi chưa đủ tiêu chuẩn xuất xứ C/O form A nhưng đã được cấp C/O form A) nếu bị khiếu nại thì doanh nghiệp có thể bảo đảm rằng các sản phẩm sản xuất tại phân xưởng của doanh nghiệp đã đáp ứng tiêu chuẩn xuất xứ khi Cơ quan Hải quan nước nhập khẩu tiến hành kiểm tra qui trình sản xuất của sản phẩm không gây hậu quả pháp lý như nước cho hưởng ưu đãi sẽ cắt giảm GSP dành cho sản phẩm đó hoặc làm ảnh hưởng đến ưu đãi của các mặt hàng khác hoặc bị Cơ quan Hải quan nước nhập khẩu truy thu thuế.

Vậy thì doanh nghiệp phải làm thế nào để đầu tư thêm trang thiết bị tiên tiến, mở rộng khả năng sản xuất, nâng cao trình độ công nghệ…..vì vấn đề mấu chốt ở đây là doanh nghiệp thiếu vốn. Thu hút vốn từ các nguồn vốn nhàn rỗi trong doanh nghiệp, ngoài xã hội hay đến ngân hàng vay vốn, đó là câu hỏi đặt ra cho doanh nghiệp. Nếu vay vốn của ngân hàng thì phải làm thủ tục thế chấp mà thủ tục này lại không đơn giản và số tiền vay được cũng không phải là lớn. Làm thế nào để thu hút vốn đầu tư mà không làm ảnh hưởng đến nguồn tài sản và tiến trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cổ phần hóa cũng là một biện pháp hữu ích nhưng trước hết doanh nghiệp phải làm cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp tin tưởng vào khả năng sản xuất kinh doanh và quản lý của doanh nghiệp, tạo ra sự trung thành, yêu mến, gắn bó của họ với doanh nghiệp, như vậy uy tín của Ban lãnh đạo doanh nghiệp (trình độ lãnh đạo quản lý, trình độ chuyên môn…) và của các cán bộ chuyên trách là nhân tố cần thiết, quan trọng để họ gửi gắm số vốn của họ cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần có phương hướng và các biện pháp cụ thể để giải quyết các vướng mắc đó.

Các biện pháp đối với Tổ chức cấp C/O.

Để giải quyết các vần đề còn vướng mắc trong khâu kiểm tra cấp C/O, đặc biệt là C/O form A và form D như đã trình bày ở trên, Cơ quan cấp C/O cần phải có đội ngũ cán bộ chuyên trách, cán bộ kỹ thuật có năng lực, kinh nghiệm kiểm tra tính xác thực của xuất xứ hàng hóa. Các cán bộ cấp C/O không những phải nắm vững quy chế cấp C/O ở Việt nam cũng như các nước cho hưởng ưu đãi mà còn phải có những hiểu biết cơ bản về những mặt hàng được mô tả trong danh mục hàng hóa xuất khẩu và mã số của những hàng hoá đó để đối chiếu với những lời khai trên mẫu xin C/O.

Ngoài ra cũng cần phải đi kiểm tra thực tế dây chuyền sản xuất của một số mặt hàng, kết hợp kiểm tra thành phần nguyên phụ liệu sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm đó. Việc kiểm tra có thể tiến hành thường kỳ, định kỳ, đột xuất để tránh tình trạng man trá của doanh nghiệp

Việc tổ chức các lớp học ngắn hạn, dài hạn cho các cán bộ cấp C/O tại cơ quan cấp C/O là rất cần thiết. Thông qua các lớp học này, một mặt các cán bộ có thể trao đổi các kinh nghiệm thực tế cũng như những khó khăn mà mình gặp khi cấp C/O để cùng nhau rút ra biện pháp hữu ích trong công việc cấp C/O của mình, mặt khác các các bộ phụ trách cũng sẽ phổ biến, hướng dẫn kịp thời cho các bộ làm chuyên môn các quy định mới của chế độ GSP của từng nước cho hưởng nếu có sự thay đổi trong chính sách GSP của họ. Điều này rất cần thiết đối với các cán bộ ở các chi nhánh hoặc các cơ quan đại diện của cơ quan cấp C/O ở các tỉnh, thành phố khác.

Phải có quan hệ mật thiết với các Cơ quan đại diện của Việt nam ở nước ngoài cũng như quan hệ trực tiếp với các Cơ quan liên quan của các nước cho hưởng ưu đãi để cập nhật thông tin mới được nhanh chóng, chính xác và thông báo lại cho các doanh nghiệp tại Việt nam để thực hiện thông qua các lớp bồi dưỡng cho các doanh nghiệp.

Thường xuyên phải thống kê số lượng cấp C/O để nắm được tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, kiến nghị lên Cơ quan quản lý cấp C/O về thực trạng hàng hóa xuất khẩu đã đáp ứng được tiêu chuẩn xuất xứ chưa, còn thiếu những tiêu chuẩn gì. Qua đó có thể kiến nghị lên Chính phủ để có những chính sách hỗ trợ đầu tư sản xuất cho doanh nghiệp, đặc biệt đối với những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các mặt hàng xuất khẩu chiến lược, có kim ngạch xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Những kiến nghị này là cầu nối giữa Chính phủ và các doanh nghiệp để giải quyết vấn đề vốn đầu tư nhằm nâng cao cả về số lượng lẫn chất lượng của sản phẩm.

Khi có khiếu nại của Cơ quan Hải quan nước nhập khẩu về bất kỳ một loại form nào, cơ quan cấp C/O cần nhanh chóng tiến hành kiểm tra và trả lời khiếu nại ngay để xác định tính chân thực, chính xác của C/O do mình cấp và cũng để giải tỏa mối nghi ngờ về tính xuất xứ của hàng hóa. Như vậy Cơ quan Hải quan nước nhập khẩu mới làm thủ tục thông quan nhanh chóng cho hàng hóa tránh phải nộp những tiền phạt không cần thiết như tiền lưu kho, bãi, tiền vận chuyển, tiền giám định hàng….đồng thời cũng giữ được uy tín và tạo mối quan hệ chặt chẽ giữa cơ quan cấp C/O và Cơ quan Hải quan của các nước nhập khẩu, tạo điều kiện thuận lợi cho những lô hàng sau.

Thực tế ở Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam đã thành lập “Ban Kiểm tra hoạt động cấp giấy chứng nhận xuất xứ” vào tháng 02/1998. Ban Kiểm tra  gồm 5 người và có những nhiệm vụ sau:

–  Tập hợp thông tin phản ánh về hoạt động cấp giấy chứng nhận xuất xứ.

–   Rà soát, kiểm tra thực tiễn hoạt động cấp giấy chứng nhận xuất xứ tại các bộ phận cấp giấy chứng nhận xuất xứ và quy chế cấp giấy chứng nhận xuất xứ hiện hành.

–        Báo cáo, kiến nghị cho Lãnh đạo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam hướng giải quyết đối với những vi phạm nghiêm trọng.

–        Đề xuất với Lãnh đạo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam về chế độ trách nhiệm, quyền lợi và kỷ luật của cán bộ, chuyên viên thực hiện công tác cấp giấy chứng nhận xuất xứ của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam.

Các biện pháp với Cơ quan quản lý cấp C/O.

Cơ quan quản lý cấp C/O ở Việt nam là Bộ Thương mại mà cụ thể là chia theo thị trường do các Vụ quản lý thị trường có liên quan quản lý. Tuy nhiên cho đến nay Bộ Thương mại vẫn chưa có văn bản pháp lý riêng nào quy định cụ thể về nhiệm vụ và trách nhiệm đối với cơ quan quản lý và cấp C/O. Hoạt động quản lý của các Vụ đều mang tính chất sự vụ, việc đến đâu giải quyết đến đó. Quản lý không theo một theo một thể chế nhất quán, đây chính là một trong những nguyên nhân gây ra rất nhiều thiếu sót trong quản lý và cấp C/O. Vì vậy Bộ Thương mại cần sớm ban hành các văn bản pháp lý quy định lại chức năng và nhiệm vụ của các Vụ quản lý thị trường trực thuộc Bộ đồng thời có các thông tư hướng dẫn cụ thể và nhanh chóng tới các Vụ và các Cơ quan hữu quan tránh hiện tượng “ thủ tục hành chính rườm rà gây mất nhiều thời gian cho Cơ quan cấp C/O và cho doanh nghiệp xuất khẩu”. Mối quan hệ dọc từ Vụ xuống các cơ quan cấp C/O phải là mối quan hệ “một – một ” vì thực chất hoạt động cấp C/O là rất đơn giản, gọn nhẹ. Quan hệ quản lý nên trực tiếp và giải quyết nhanh chóng giúp doanh nghiệp có được C/O trong vòng 1 ngày nếu hồ sơ đầy đủ không có thiếu sót hoặc trong vòng 3 ngày nếu cần làm rõ tính xuất xứ của hàng hóa.

Để quản lý hoạt động cấp C/O có hiệu quả, các cơ quan có trách nhiệm phải thường xuyên theo dõi tình hình cấp C/O, chỉ đạo việc xin và cấp C/O bằng các văn bản pháp luật trong đó nêu rõ, cụ thể hình phạt với từng mức độ vi phạm về khai báo khi xin cấp C/O của doanh nghiệp và mức độ vi phạm quy định về cấp C/O của cán bộ, Cơ quan cấp C/O. Các mức hình phạt phải có tính khả thi, tức là không quá nhẹ để doanh nghiệp và các cơ quan coi nhẹ việc xin và cấp C/O sai nhưng cũng không nên quá nặng gây mất cân đối giữa pháp luật và hoạt động xin, cấp C/O.

Hoạt động cấp C/O ở các chi nhánh của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam, có nơi đã cập nhật số lượng cấp C/O vào máy tính từng giờ, từng ngày nhưng cũng có nơi chỉ ghi trên sổ sách, việc cập nhật vào máy tính chậm chạp và thiếu chính xác. Hệ thống, chương trình cập nhật số liệu cấp C/O tại các nơi cấp (các chi nhánh) khác nhau nên khi nơi này muốn lấy thông tin của nơi kia phải mất nhiều thời gian, vì vậy quản lý việc cấp C/O rất khó cho Ban Pháp chế – Phòng Thương mại và Công nghiệp tại Hà nội (trụ sở chính). Để khắc phục tình trạng trên Phòng Thương mại cần kiến nghị lên Chính phủ xin ngân sách nhà nước để xây dựng hệ thống quản lý dữ liệu, thông tin trên máy tính nối mạng thống nhất trên toàn quốc vì hiện nay Hệ thống này vẫn chưa được nối mạng do vậy việc lấy số liệu, thông tin của các Chi nhánh Phòng Thương mại gặp rất nhiều khó khăn, chủ yếu lấy từ các báo cáo sơ kết, tổng kết của từng Chi nhánh.

Dựa trên các báo cáo và các kiến nghị về tình hình xin, cấp C/O của các cơ quan cấp dưới, Chính phủ sẽ ban hành chính sách khuyến khích đầu tư đối với doanh nghiệp. Ưu tiên cho những dự án đầu tư sử dụng nguyên phụ liệu trong nước hoặc được sản xuất khai thác từ các doanh nghiệp khác trong nước để nâng tỷ lệ phần trăm nội địa của sản phẩm bằng các chính sách thuế (cho hưởng mức thuế thấp đối với thuế đánh vào giá trị gia công tối thiểu, giá trị gia công; cho vay vốn để mua sắm thiết bị sản xuất ra các sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu – được giảm thuế nhập khẩu, miễn thuế giá trị gia tăng… trong thời gian đầu khi mới nhập máy móc thiết bị về sau đó tăng dần để tạo điều kiện cho doanh nghiệp thu đủ vốn và lợi nhuận ban đầu nhằm tái mở rộng sản xuất kinh doanh sau này; khuyến khích các hình thức thuê mua thiết bị….). Như vậy sẽ tránh được tình trạng các doanh nghiệp phải xuất khẩu các sản phẩm của mình dưới dạng thô; khuyến khích các doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia vào quy trình chế biến nguyên phụ liệu thành dạng tinh và có thể sử dụng trực tiếp vào sản xuất các sản phẩm xuất khẩu ở các doanh nghiệp sản xuất.

Tăng cường các mối quan hệ ngoại giao, kinh tế – chính trị, văn hóa – xã hội giữa Chính phủ Việt nam và Chính phủ các nước cho hưởng ưu đãi nói riêng và các nước trên thế giới nói chung. Các mối quan hệ bền chặt đó một mặt sẽ giúp Việt nam nắm bắt được các thông tin chính sách thay đổi thường xuyên của chế độ GSP mặt khác sẽ đưa Việt nam vào vị trí và lợi thế thương mại quốc tế tốt hơn trên chính trường thế giới. Trên cơ sở đó Chính phủ sẽ đề ra được đường lối phát triển đúng đắn trong quan hệ đó cũng như sẽ ban hành các văn bản hướng dẫn, sửa đổi kịp thời để hỗ trợ các cơ quan quản lý, cơ quan cấp C/O và các doanh nghiệp trong công việc chuyên môn của họ.

Hiện nay việc cấp C/O form A lại do hai cơ quan khác nhau cùng cấp đó là Bộ Thương mại và Phòng Thương mại nên sự chồng chéo và thiếu sót tất yếu sẽ xảy ra, vì vậy việc sớm thành lập Ban quản lý C/O form A riêng bên cạnh Bộ Thương mại, vấn đề mà trước đây đã được Bộ Thương mại đề cập đến trong công văn số 2340/TM/AM ngày 2/8/1995 gửi Tổng Cục Hải quan và Phòng Thương mại, là một vấn đề rất cấp bách, cần phải triển khai càng sớm càng tốt.