Kiến nghị với Nhà nước và các tổ chức liên quan tạo thiết chế thúc đẩy trách nhiệm xã hội đối với người lao động tại các doanh nghiệp may Việt Nam

Chính phủ có lộ trình phát triển kinh tế và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

Chính phủ cần chú trọng hơn nữa phát triển kinh tế để phát huy cao độ nội lực, khẳng định vị thế của Việt Nam trong TMQT. Gắn kết phát triển kinh tế với đổi mới cơ cấu DN thực hiện các tiêu chuẩn quốc tế để gia tăng tính quốc tế trong phát triển kinh tế. Đối với các DN may thúc đẩy phát triển cần phải duy trì sức mạnh các nguồn lực trong DN cũng như tiếp tục thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Các DN phải đảm bảo, tăng cường thực hiện TNXH đảm bảo quyền, lợi ích cho NLĐ trong làn sóng FDI, ODA để tăng cường chất lượng lao động trong phát triển kinh tế để có được những NLĐ có trình độ chuyên môn, lành nghề tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu với vị trí không còn là “lao động giá rẻ”, vượt lên trên mức đáy trong chuỗi này. Chủ động hội nhập kinh tế được ghi nhận trong Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 04/9/2018: “Tiếp tục chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện trong đó hội nhập TMQT là trọng tâm”. Để chủ động hội nhập Chính phủ Việt Nam cần tạo điều kiện thông qua phê chuẩn Công ước 87, Công ước 105 để đảm bảo các tiêu chuẩn quốc tế. Bên cạnh đó, theo quyết định 145/QĐ-TTg Chiến lược quốc tế về lao động và xã hội khẳng định: “đến năm 2020 phê chuẩn các công ước còn lại và một số công ước khác của ILO”. Thực hiện TNXH đối với NLĐ sẽ thực hiện tốt các công ước về tiêu chuẩn về lao động toàn cầu. Bên cạnh đó với các FTAs đã đàm phán cần tiến hành nhanh chóng các thủ tục, rà soát pháp lý để ký kết chính thức, trình cơ quan có thẩm quyền. Đồng thời tiếp tục ký kết các FTAs: RCEP (ASEAN+6), Việt Nam – EFTA, Việt Nam – Israel… Việc ký kết các FTAs này mang lại nhiều “cơ hội hơn” cho các DN may như gia tăng xuất khẩu, thu hút vốn, tiếp cận và nâng cao chất lượng lao động chuẩn khu vực và thế giới. Nâng cao hiệu quả trong hội nhập kinh tế bằng cách tổ chức tốt các giai đoạn trong quá trình đàm phán, ký kết và thực thi các FTA trong kế hoạch tổng thể với lộ trình

hợp lý. Do đó quy trình tham gia FTA gồm 3 bước (xem hình 17- phụ lục 9).

Giai đoạn 1- Nghiên cứu, đàm phán: Nghiên cứu sơ bộ các nội dung trong hiệp định đó để nhận diện, xác định mô hình để có tính chủ động. Trên cơ sở đó, chuẩn bị nhân lực tham gia đàm phán, là những người am hiểu hệ thống luật pháp và thực tiễn của đất nước, có khả năng phân tích cam kết trong hiệp định.

Giai đoạn 2- Đàm phán và chuẩn bị phê chuẩn: Tìm hiểu nội dung, cơ chế thực hiện, cơ chế giải quyết tranh chấp, chế tài xử phạt khi vi phạm các điều khoản.

Sau đó đánh giá sự thích hợp về mặt luật pháp và thực tiễn trong nước đối với các cam kết trong hiệp định và ra quyết định tham gia hay không tham gia hiệp định.

Giai đoạn 3- Phê chuẩn và thực hiện: Xây dựng lộ trình triển khai bao gồm việc chuẩn bị bộ máy thực thi và biện pháp phòng vệ, kế hoạch và triển khai điều chỉnh luật pháp, chính sách, thiết chế và các biện pháp hỗ trợ thực thi.

Quốc hội, Nhà nước hoàn thiện các văn bản pháp lý liên quan đến trách nhiệm xã hội đối với người lao động

Quốc hội hoàn thiện ban hành chính sách, pháp luật liên quan TNXH đối với NLĐ Hoàn thiện quy trình xây dựng và ban hành chính sách pháp luật: Để tạo

thiết chế thuận lợi cho các DN Nhà nước cần ban hành chính sách, pháp luật liên quan đến thực hiện TNXH đối với NLĐ; Quốc hội cần bổ sung thêm bước phân  tích tác động của chính sách, dự luật mới. Tham khảo quy trình ban hành luật của rất nhiều nước trên thế giới cho thấy công đoạn đầu tiên của quy trình ban hành pháp luật là phân tích chính sách gồm: nhận biết vấn đề đang phát sinh trong xã  hội; tìm nguyên nhân của vấn đề; đề ra giải pháp; nghiên cứu các vướng mắc về  tính hợp hiến, hợp pháp; đánh giá tác động của đạo luật dự kiến ban hành; nghiên cứu khả năng tài chính để bảo đảm triển khai các văn bản pháp luật”.  Như  vậy  quy trình xây dựng và ban hành văn bản pháp luật gồm 7 bước (xem Hình 18- phụ lục 9) từ phân tích tác động của chính sách đến công bố luật, pháp lệnh.

Hoàn thiện nội dung pháp luật liên quan đến thực hiện TNXH đảm bảo quyền cho NLĐ: Quốc hội hoàn thiện khung pháp luật nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc, tiến bộ và đảm bảo tính quốc tế để các DN thực thi như trong Bộ luật lao động:

Đối với HĐLĐ: Trong khoản 2 Điều 3: “NSDLĐ là DN, cơ quan, tổ chức,  hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo HĐLĐ; nếu  là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.” NSDLĐ là một bên quan trọng trong HĐLĐ vì vậy cần có hướng dẫn cụ thể NSDLĐ; Khoản 2 Điều 22: “Khi HĐLĐ hết hạn mà NLĐ vẫn tiếp tục làm việc mà không ký kết HĐLĐ mới  thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản  1 Điều 22 trở thành  HĐLĐ không xác định thời hạn và hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 22 trở thành HĐLĐ xác định thời hạn 24 tháng”. Điều này phải quy định rõ thành HĐLĐ xác định thời hạn với thời gian 24 tháng; Điều 37: quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NLĐ phải gồm 2 điều kiện: 1 – Có lý do được quy định bởi luật; 2-Tuân thủ thời hạn báo trước.

Đối với giờ làm việc: Tại điều 106 quy định: “Về số giờ làm thêm tối đa của NLĐ là không quá 30 giờ/tháng và 1 năm không quá 200 giờ, trường hợp đặc biệt không quá 300 giờ”. Đề xuất tăng số giờ làm thêm tối đa theo hướng quy định 1 ngày làm việc thì NLĐ làm việc bình thường, làm thêm giờ tối đa không quá 12 giờ/ngày và  không được phép huy động NLĐ làm thêm giờ liên tục quá 5 ngày làm việc cho mỗi đợt làm thêm giờ.

Đề xuất sửa đổi quy định  mức lương tối thiểu theo hướng đảm bảo “mức sống tối  thiểu của người lao động và gia đình họ” và đề nghị bổ sung thêm các yếu tố xác định mức lương tối thiểu vùng; Điều 61: “Học nghề, tập nghề để làm việc cho NSDLĐ”. Theo đó, phải quy định rõ thời gian tối đa học nghề, học tập của NLĐ   tại DN đề NLĐ sau thời gian đó được hưởng mức lương, phúc lợi người học.

Đối với ATVSLĐ: Luật ATVSLĐ cần đơn giản hóa các thủ tục để cấp giấy chứng nhận cho DN và quy định mức phạt từ 100 -200 triệu đồng để răn đe các DN vị phạm; Phạt từ 10-20 triệu đồng để NLĐ nâng cao ý thức thực hiện ATVSLĐ.

Để NSDLĐ và NLĐ không bị đẩy vào “chỗ khó” khi triển khai Nghị định 85/2015/NĐ-CP về chính sách đối với lao động nữ. Nhà nước  cần  có  những hướng dẫn cụ thể, hỗ trợ kịp thời khi các DN thực hiện các quy định về chính sách đặc thù đối với NLĐ nữ. Mức độ áp dụng tùy thuộc vào điều kiện thực tế của mỗi DN về: định kỳ gắn với khám chuyên khoa phụ sản hàng năm, chế  độ thai sản,  nghỉ mỗi ngày 30 phút trong thời gian hành kinh, 60 phút trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Nhà nước cần phải ưu tiên hỗ trợ các DN may với đa số là  NLĐ nữ như: hỗ trợ phụ nữ mang thai, nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi; lắp đặt phòng vắt trữ sữa cho lao động nữ  nuôi con nhỏ, xây dựng nhà trẻ. Đặc biệt phải  có những chính sách hỗ trợ DN đối với NLĐ nữ  khi kết thúc quan hệ làm việc  hiện nay tuổi đa cao, sức khỏe đã giảm sút. Đồng thời phải có chế tài xử phạt đủ mạnh, đủ sức răn đe nếu các DN đuổi NLĐ nữ một cách vô cớ.

Ngoài ra, thực hiện rà soát lại hệ thống pháp luật và chính sách có liên quan  về TNXH đảm bảo quyền cho NLĐ. Vì trong quyết định 145/QĐ-TTg Chiến lược quốc tế về lao động và xã hội đã nhận định: “Đến năm, 2030 đảm bảo nội luật hóa toàn bộ các cam kết về  lao động quốc  tế. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng  cao, phù hợp với yêu cầu tham gia vào thị trường lao động khu vực và toàn cầu”.  Tổ chức việc thực hiện pháp luật có liên quan đến  TNXH đảm bảo quyền cho  NLĐ như: quy định trong Luật lao động, Luật việc làm, Luật an toàn vệ sinh lao động đặc biệt là Luật bình đẳng giới  với mục đích để tạo động lực thực hiện  TNXH đảm bảo quyền NLĐ tại các DN may.

Nhà nước tăng cường hiệu quả tổ chức bộ máy quản lý về TNXH đối với NLĐ.

Nhà nước phải phân trách nhiệm rõ ràng giữa Bộ Công thương chịu trách nhiệm; Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Khoa học và công nghệ và các ngành liên quan về TNXH đối với NLĐ của các DN một cách rõ ràng, tránh hiện tượng chồng chéo hay bỏ sót nhiệm vụ theo hướng hợp nhất các cơ quan quản lý nhà nước và quy định cơ chế phối hợp giữa các bộ, ban, ngành liên quan. Ở mỗi ngành cụ thể như ngành dệt may cần phân định rạch ròi giữa chủ thể quản lý và   đối tượng thực hiện theo chuỗi giá trị của các DN để đạt hiệu quả cao hơn. Tổ   chức ban hành các văn bản hướng dẫn thực thi pháp luật liên quan đến TNXH đối đảm bảo quyền cho NLĐ của DN một cách cụ thể, tránh xâm lấn lên nhau.

Nhà nước cần hình thành kênh thông tin phản hồi để có thể tiếp nhận nhanh chóng những vấn đề vướng mắc trong  Bộ luật, luật và các văn bản  hướng dẫn để  từ đó có thể đưa ra những hướng dẫn, giải pháp kịp thời. Nhà nước nên soạn thảo văn bản hướng dẫn dưới dạng cẩm nang hướng dẫn thực hiện TNXH đảm bảo quyền và lợi ích cho NLĐ của các DN.

Nhà nước cần có chính sách miễn thuế với những khu đất mà các DN may thực hiện TNXH đảm bảo lợi ích trong  các chương trình phúc lợi mở rộng như:  xây nhà cho NLĐ xa nhà, xây nhà trẻ cho công em NLĐ, nhà văn  hóa  công nhân…. Bên cạnh đó, Bộ lao động Thương binh và xã hội, Tổng liên đoàn lao   động Việt Nam phối hợp với các ngân hàng thành lập “Quỹ hỗ trợ và thúc  đẩy thực hiện TNXH đối với NLĐ” và sử dụng quỹ này một cách hợp lý. Quỹ này đặc biệt hỗ trợ cho NLĐ nữ khi kết thúc quan hệ việc làm tại các DN may với tuổi đã cao, sức khỏe giảm sút, khó tìm việc làm mới, khó xây dựng gia đình… để đảm    bảo tính thiết thực, tính bền vững của các chính sách về việc làm, Nghị định 85/2015/NĐ-CP về chính sách đối với lao động nữ thì Nhà nước cần phân công rõ vai trò và huy động trách nhiệm của xã hội, cộng đồng, DN và trách nhiệm của    bản thân NLĐ để đây không còn là vấn đề “nhức nhối” của NLĐ nữ tại các DN may nói riêng và NLĐ nữ tại các khu công nghiệp nói chung.

Đẩy mạnh liên kết giữa Nhà nước với các tổ chức/hiệp hội trong và ngoài nước trong ngành dệt may nói chung và các DN may Việt Nam nói riêng (theo nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Thủ tướng Chính phủ). Đầu tư theo hình thức đối tác công tư (Public – Private Partner gọi tắt là PPP) là hình thức đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, DN. Hợp tác công – tư sẽ phát huy sức mạnh tổng hợp của các bên tham gia đóng góp cho sự phát triển ngành dệt may nói chung và các DN may Việt Nam nói riêng theo hướng phát triển bền vững (xem Hộp 9 – phụ lục 11).

Nhà nước tăng cường thanh tra, giám sát thực hiện TNXH đối với NLĐ của DN Thành lập cơ quan quản lý chuyên trách chịu trách nhiệm thực thi TNXH và phân cấp quản lý của Nhà nước. Bộ phận này có nhiệm vụ giám sát, thúc đẩy thực hiện TNXH đảm bảo quyền cho NLĐ; Tăng cường năng lực đội ngũ thanh tra, giám sát thực hiện TNXH đảm bảo quyền cho NLĐ. Theo khuyến nghị của ILO Việt Nam cần tới hơn 000 thanh tra. Như vậy, trong thời gian tới cần xây dựng lộ trình tăng cường lực lượng thanh tra đảm bảo cả “lượng và chất” bằng việc đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về công tác này cũng như có chế độ đãi ngộ xứng đáng.

Nhà nước bổ sung thêm vào nhiệm vụ thanh tra, chức năng giám sát, kiểm tra và tư vấn cho các DN trong việc thực hiện TNXH đảm bảo quyền cho NLĐ; Thiết lập cơ chế ba bên giữa Chính phủ, VGVL, VCCI. Trong đó quy định rõ trách nhiệm của từng bên và cơ chế phối hợp trong việc thực hiện chức năng giám sát, kiểm tra.

Nhà nước cần thúc đẩy việc thành lập và trao quyền cho các cơ quan giám sát độc lập như ILO, IFC, MOLISA về thực hiện TNXH đảm bảo quyền và lợi ích cho NLĐ. Từ đó cơ quan này kịp thời uốn nắn, chấn chỉnh những sai sót của các DN, đồng thời có chế tài xử phạt nghiêm minh, có tính răn đe đối với các DN may vi phạm.

Các Bộ, Ngành, Hiệp hội Dệt May thúc đẩy các doanh nghiệp may tiếp cận các CoC về lao động.

Để khuyến khích các DN may ứng dụng các CoC về lao động quốc tế thì Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng và VITAS nên đầu tư xây dựng một bộ CoC chung được hình thành trên cơ sở tích hợp các quy định của các CoC về lao động như: SA8000, WRAP… đáp ứng yêu cầu của các đối tác nước ngoài, các quốc gia khác quy định buộc các DN may muốn xuất khẩu hàng hóa hoặc có quan hệ hợp tác với các nước phải tuân thủ. Thiết lập một hệ thống thông tin chuyên theo dõi, phân tích, cung cấp các yêu cầu về TNXH đảm bảo quyền và lợi ích cho NLĐ của đối tác nước ngoài cho các DN may. Cùng với đó, VITAS và Bộ Khoa học công nghệ xây dựng bộ công cụ hướng dẫn, kiểm tra mức độ đạt các CoC về lao động qua Internet hay thiết bị di động như: ứng dụng phần mềm App trên thiết bị di động để DN tiếp cận, tra cứu thông tin về mức độ đạt CoC qua đó giúp DN tự khám “sức khỏe” khi nộp hồ sơ xin cấp đạt CoC đó.

Thúc đẩy các DN tiếp cận các CoC trong thực hiện đảm bảo quyền và lợi ích cho NLĐ cần có sự phối hợp giữa MOLISA, VGVL, VCCI phối hợp để hỗ trợ kỹ thuật để xây dựng các mô hình mẫu về các DN thực hiện tốt TNXH đối với NLĐ  về các CoC: SA8000, WRAP. Biểu dương các DN đạt được lợi nhuận cao từ thực hiện TNXH đối với NLĐ để các DN may học tập. Bên cạnh đó, Bộ giáo dục và   các Trường Đại học, Cao đẳng cần phải đào tạo về TNXH đảm bảo quyền và lợi  ích cho NLĐ trong các khối ngành quản trị kinh doanh,  quản lý lao động.  Thiết  lập các chương trình đào tạo về việc tính toán lợi ích và lợi nhuận mà các DN sẽ  đạt được khi thực hiện CoC SA8000, WRAP, OHSAS 18001.

Để tăng cường thực hiện TNXH đảm bảo quyền và lợi ích cho NLĐ của các DN may thì VITAS đẩy mạnh các hoạt động hướng dẫn, hỗ trợ các DN may trong ngành hội thảo, hội nghị, tư vấn, đào tạo để các DN may cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm, vượt qua những khó khăn trong thực hiện TNXH đảm bảo quyền cho  NLĐ. Tổ chức các cuộc thi, phát động phong trào về thực hiện TNXH đảm bảo lợi ích cho NLĐ, phong trào xây dựng và áp dụng các hệ thống SA8000, WRAP… để các DN may đã vận hành thành công các CoC đó có cơ hội quảng bá hình ảnh, thương hiệu cho xã hội. Từ đó tạo diễn đàn trao đổi học hỏi giữa các DN trong ngành. VITAS cũng nên thống nhất xây dựng các quy chuẩn chung về các vấn đề liên quan đến TNXH đảm bảo quyền và lợi ích để các DN may trong ngành có thể thuận tiện sử dụng và đánh giá, giám định của các đối tác.

VITAS phối hợp với VGVL, Liên đoàn Dệt May các nước Đông Nam Á ban hành Bộ tài liệu hướng dẫn kỹ năng nghề, kỹ năng đào tạo nghiệp vụ may cho các DN. Bên cạnh đó, trong thời gian tới Hiệp hội cần xây bộ tiêu chuẩn nghề may  quốc gia đồng thời VITAS cần tạo ra sự phối kết hợp giữa cơ sở đào tạo với các DN may để nâng cao chất lượng lao động cũng như đáp ứng nhu cầu học hỏi, đổi mới của NLĐ; Các Trung tâm Giới thiệu việc làm chính là “cầu nối” giữa NLĐ và NSDLĐ. Vì vậy cần phát huy hơn nữa vai trò hiệu quả của sàn giao dịch việc làm của các thành phố trung tâm như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các sàn giao dịch việc làm vệ tinh tại các địa phương lân cận bảo đảm hiệu quả thông tin cung – cầu lao động may mặc được cập nhật chính xác, thường xuyên, kịp thời, tạo kết  nối; Bộ thông tin và truyền thông cũng như  các cơ quan thông tin đại chúng nên   có chương trình và dành thời lượng thích đáng cho tuyên truyền, khuyếch trương những DN thành công trong thực hiện TNXH đảm bảo quyền và lợi ích cho NLĐ.

VGVL cần đổi mới toàn diện, mạnh mẽ để tiếp tục giữ vững và phát huy vai trò chủ đạo, chỉ đường, dẫn dắt NLĐ trong bối cảnh Việt nam đang thực hiện cam kết quốc tế về lao động trong các FTA tự do thế hệ mới và các Công ước của ILO (đặc biệt công ước 98 về thương lượng tập thể mới ký kết 7/2019) cũng như thực hiện TNXH bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ, để thu hút sự tham gia và tin tưởng của NLĐ.