Kim ngạch xuất khẩu cao su ở Việt Nam

Kim ngạch xuất khẩu cao su ở Việt Nam
Đánh giá bài viết

1. Kim ngạch xuất khẩu:

Theo số liệu thống kê, lượng cao su xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2007 đạt khoảng 291 ngàn tấn, kim ngạch đạt 547 triệu USD, tổng kim ngạch tăng 6% do giá cao su xuất khẩu trung bình 6 tháng đầu năm nay cao hơn cùng kỳ này năm 2006 là 6%

Trong tháng 6/2007, xuất khẩu cao su của Việt Nam đạt 60 ngàn tấn, kim ngạch đạt 121 triệu USD, so cùng kỳ năm trước lượng co su xuất khẩu tăng 5%, nhưng kim ngạch chỉ tăng 3%, nguyên nhân do giá cao su xuất khẩu gần đây giảm so với năm 2006, trên 30 USD/tấn.

Theo dự báo của Hội các nước sản xuất cao su thiên nhiên, sản lượng cao su thế giới năm 2007 sẽ tăng 3,08% lên 9,36 triệu tấn. Tổng tiêu thụ cao su tăng 4,7% đạt 22,2 triệu tấn. Mặt khác giá dầu thế giới luôn trong tình trạng bất ổn và trong xu thế tăng giá. Giá cao su thế giới có thể biến động, khi tăng, khi giảm nhưng nhìn chung luôn vững ở mức cao.

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong tháng 7/2007 Việt Nam xuất khẩu được khoảng 60 ngàn tấn cao su các loại, đạt kim ngạch trên 123 triệu USD, tăng 12,23% về lượng và tăng 12,27% về trị giá so với tháng trước nhưng lại giảm 8,5% về lượng và giảm 13,76% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái. Lượng cao su xuất khẩu 7 tháng đầu năm 2007 đạt khoảng 344 ngàn tấn, kim ngạch đạt 658 triệu USD, giảm 4% về lượng nhưng kim ngạch đạt xấp xỉ cùng kỳ năm trước.

Xuất khẩu cao su Việt Nam dự báo sẽ tăng 7-10%, đạt 750.000-780.000 tấn trong năm 2007, trong đó 250.000 tấn được nhập khẩu rồi tái xuất, so với 236.000 tấn năm 2006.

Theo Hiệp hội Cao su Việt Nam, Việt Nam sẽ tăng sản lượng cao su nguyên liệu – dùng để sản xuất lốp xe và giày dép – lên 700.000 tấn trong vòng 3 năm, so với 540.000 tấn năm 2006, tức là tăng 30% từ nay tới năm 2010.

Trong bối cảnh nhu cầu cao su nguyên liệu tăng trên toàn cầu, miền Trung – Tây Nguyên có kế hoạch tăng gấp đôi diện tích trồng cao su lên 220.000ha vào năm 2010. Khu vực này gồm 5 tỉnh, hiện đã có 116.000ha cao su. Việt Nam, có kế hoạch trồng 100.000ha cao su vào năm 2010 ở 4 tỉnh Đắklắk, Gia Lai, Kon Tum và Đắc Nông. Việt Nam hiện có tổng cộng 490.700ha cao su. Mục tiêu của Việt Nam là tăng sản lượng mủ thêm 13% lên 700.000 tấn vào năm 2010, so với 620.000 tấn dự kiến của năm 2007.

2 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu:

Hầu hết các mặt hàng cao su xuất khẩu trong năm 2006 đều tăng khá như xuất khẩu cao su khối SVR 3L tăng 13,91% về lượng và tăng 51,51% về trị giá so với năm 2005. Giá xuất khẩu trung bình đạt 1.954 USD/tấn, tăng 33% (tăng 485 USD/tấn) so với giá xuất khẩu trung bình năm 2005. Đáng chú ý trong năm 2006, giá xuất khẩu trung bình cao su khối SVR 3L sang thị trường Mêhicô tăng rất mạnh, tăng tới 1.050 USD/tấn so với giá xuất khẩu trung bình năm 2005, đạt 2.530 USD/tấn. Ngoài ra, giá xuất khẩu mặt hàng này sang một số thị trường khác đạt khá cao như giá xuất khẩu sang Malaysia đạt 2.107 USD/tấn, tăng 47,7%; sang Nga đạt 2.106 USD/tấn, tăng 45,5%; tới Tây Ban Nha đạt 2.065 USD/tấn, tăng 43,7% và sang Nhật Bản đạt 2.018 USD/tấn, tăng 35,7% so với giá xuất khẩu trung bình năm 2005.

Xuất khẩu mủ cao su Latex cũng tăng 52,2% về lượng và tăng 103,7% về trị giá so với năm 2005, đạt 84,92 ngàn tấn với trị giá 105,916 triệu USD. Mủ cao su Latex được xuất khẩu chủ yếu sang Trung Quốc, Mỹ, Hàn Quốc và Đức. Giá xuất khẩu trung bình đạt 1.247 USD/tấn, tăng 33,85% so với giá xuất khẩu trung bình năm 2005.

Trong 6 tháng đầu năm 2007, xuất khẩu cao su SVR10 giảm 4,04 về lượng và giảm 0,06% về trị giá so với 6 tháng đầu năm 2006. Giá xuất khẩu trung bình loại cao su này sang thị trường Nhật Bản đạt giá cao nhất với 2.028 USD/tấn, tăng 38 USD/tấn; tiếp đến giá xuất sang Đài Loan đạt 1.961 USD/tấn, tăng 199 USD/tấn; giá xuất sang Hàn Quốc cũng đạt 1.930 USD/tấn, tăng 89 USD/tấn so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, giá xuất khẩu lọai cao su này sang thị trường Trung Quốc luôn thấp hơn các thị trường trên từ 150-200 USD/tấn, chỉ ở mức 1.798 USD/tấn.

Trong 6 tháng đầu năm 2007, xuất khẩu cao su SVR3L chỉ tăng 5,85% về lượng và tăng 8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2006, đạt 112,6 ngàn tấn với trị giá 227,86 triệu USD. Loại cao su này được xuất sang 55 thị trường. Trong đó xuất sang Trung Quốc chiếm tỷ trọng cao nhất, chiếm tới 67% tổng lượng cao su SVR3L xuất khẩu của cả nước, đạt trên 75,5 ngàn tấn, với trị giá 151,6 triệu USD, tăng 4% về lượng và tăng 4,63% về trị giá so với cùng kỳ năm 2006. Giá xuất sang Trung Quốc đạt 2.007 USD/tấn, tăng 12 USD/tấn; xuất sang Đài Loan đạt trên 7 ngàn tấn, với giá xuất đạt 2.054 USD/tấn, tăng 158 USD/tấn; xuất sang Nga đạt trên 4 ngàn tấn, giá xuất đạt 2.078 USD/tấn, giảm 48 USD/tấn so với giá xuất khẩu trung bình cùng kỳ năm trước.

3 Thị trường xuất khẩu:

Trong năm 2006, cao su Việt Nam đã được xuất khẩu sang hơn 40 thị trường trên thế giới. Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu cao su lớn nhất của nước ta, chiếm 66,38% tổng lượng cao su xuất khẩu của cả nước, đạt gần 470 ngàn tấn với trị giá 851,38 triệu USD, tăng 27% về lượng và tăng 64% về trị giá so với năm 2005.

Từ đầu năm 2007 đến nay, xuất khẩu cao su sang thị trường Malaysia tăng rất mạnh, tăng 844,53% về lượng và tăng 819,33% về trị giá so với cùng kỳ năm 2006, đạt trên 13 ngàn tấn với trị giá gần 26 triệu USD. Trong khi đó, xuất khẩu cao su sang thị trường Trung Quốc lại giảm 13,35% về lượng và giảm 10,11% về trị giá so với cùng kỳ năm 2006, đạt 173,56 ngàn tấn với trị giá 326,79 triệu USD do thị trường này chuyển sang mua cao su của Thái Lan.

Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cho biết, thị trường xuất khẩu cao su 7 tháng đầu năm tương đối ổn định. Lượng cao su xuất khẩu sang Trung Quốc tuy giảm 13% so với cùng kỳ năm trước nhưng đây vẫn là nước nhập khẩu cao su Việt Nam lớn nhất với thị phần 63%, tiếp theo là Hàn Quốc, Đài Loan, Đức, với mức thị phần từ 4-5%.

Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đang có kế hoạch tăng cường xuất khẩu cao su sang thị trường châu Âu, đồng thời giảm sản lượng cao su xuất khẩu sang Trung Quốc. Chiến lược này nhằm đa dạng hoá thị trường, tránh nguy cơ rủi ro khi tập trung sản lượng xuất khẩu phụ thuộc vào một thị trường.