Kim ngạch xuất khẩu gỗ Việt Nam

1. Kim ngạch xuất khẩu:

Từ năm 2004, ngành xuất khẩu gỗ chế biến tạo sự bứt phá ngoạn mục, kim ngạch xuất khẩu đạt 1,1 tỷ USD, tăng gấp 4 lần (tăng 88%) so với năm 2003 và duy trì tốc độ tăng trưởng cao, năm 2005 là 35%, năm 2006 là 24,5%, sáu tháng đầu năm 2007, ngành thực hiện kim ngạch xuất khẩu 1,2 tỷ USD bằng cả năm 2004.dự kiến cả năm đạt 2,5 tỷ USD. Đồ gỗ trở thành mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đứng thứ 5 sau dầu thô, dệt may, giày dép và thủy sản. 3 năm qua có sự dịch chuyển mạnh từ nguồn đầu tư FDI doanh nghiệp (DN) các nước trong khu vực với trên 300 DN, nâng con số đơn vị chế biến gỗ và lâm sản cả nước lên khoảng 2.000 DN, với hơn 170.000 công nhân. Năng lực chế biến gỗ, không chỉ tăng về số lượng và quy mô, mà còn do các DN tăng cường đầu tư máy móc, thiết bị và công nghệ để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, kể cả trình độ quản lý và tay nghề công nhân. Thị trường xuất khẩu gỗ chế biến mở rộng với hơn 120 nước và lãnh thổ, và từng bước được củng cố vững chắc tại 3 thị trường chính là Mỹ, EU và Nhật Bản. Năng lực cạnh tranh sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu VN được nâng cao.

Đồ gỗ của Việt Nam đang có một chỗ đứng khá vững trên thị trường thế giới. Kim ngạch xuất khẩu 7 tháng đầu năm 2007 đặt 1.334 triệu USD, tăng 25,1% so với cùng kỳ năm trước. Đồ gỗ Việt Nam đã có mặt tại 120 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới. Những thị trường hút hàng của Việt Nam là Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ôxtraylia, Đài Loan, Malaysia, Hồng Kông.

Riêng trong tháng 7-2007, Việt Nam đã xuất khẩu sản phẩm gỗ đạt 200 triệu USD, tăng 37% so với tháng 7-2006. Hiện đồ gỗ Việt Nam được các đối tác nhập khẩu gỗ đánh giá khá cao chất lượng sản phẩm cũng như uy tín.

Kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam 8 tháng đầu năm 2007 ước đạt 1,5 tỷ USD, tăng 23% so với cùng kỳ năm 2006. Mỹ vẫn là thị trường nhập khẩu sản phẩm này lớn nhất của Việt Nam, kế đến là Nhật Bản, Anh… Xuất khẩu sản phẩm gỗ đã thực hiện được 74,6% kế hoạch năm.

2. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu:

Về cơ cấu sản phẩm xuất khẩu trong tháng 7/07, qua bảng trên cho thấy đồ nội thất dùng trong phòng ngủ vẫn là nhóm mặt hàng đạt kim ngạch cao nhất với 47,55 triệu USD, chiếm 25,9% tổng kim ngạch. Đồ nội thất phòng ngủ xuất khẩu gồm có giường, bộ phận giường, tủ áo, bàn, tủ trang điểm…tiếp đến là đồ nội thất dùng trong phòng khách, phòng ăn, đạt kim ngạch 44,6 triệu USD, chiếm 24,3% tỷ trọng; ghế đạt 27,22 triệu USD, chiếm 14,8%; gỗ ván đạt 16,67 triệu USD, chiếm 9,1%; đồ nội thất dùng trong văn phòng đạt 11,3 triệu USD, chiếm 6,2%…

Ghế vẫn là mặt hàng có tốc độ tăng trưởng cao nhất, chiếm đến 25% tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ. Các sản phẩm ghế xuất khẩu như ghế cao su, ghế gỗ sồ, ghế living dining milner… Tiếp đến là đồ nội thất phòng ngủ, đạt 46,6 triệu USD trong tháng 3, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu đồ nội thất loại này trong 3 tháng đầu năm đạt 122,2 triệu USD, tăng 15% so cùng kỳ năm ngoái và chiếm 18,3% tỷ trọng. Đồ nội thất phòng ngủ như giường, tủ áo, bàn trang điểm… là những sản phẩm có thế mạnh của ta. Đồ nội thất dùng trong phòng khách, phòng ăn cũng là một sản phẩm được ưa chuộng như bàn coffee, tủ commot, tủ buffee…đạt kim ngạch 39,8 triệu USD, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu đồ nội thất loại này 3 tháng đầu năm đạt 112,4 triệu USD, tăng 19% so cùng kỳ năm ngoái. Ngoài ra, 3 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu đồ nội thất văn phòng cũng đạt 30,9 triệu USD, tăng 3,4% so cùng kỳ năm ngoái; gỗ, ván đạt 31 triệu USD, tăng 12%; đồ nội thất nhà bếp đạt 4,6 triệu USD, tăng 9,5%…

Hiện nay Việt Nam có trên 1.800 công ty tham gia xuất khẩu sản phẩm gỗ. Nhưng những doanh nghiệp đạt kim ngạch cao đều là những công ty có vốn đầu tư nước ngoài như công ty Cty TNHH Scancom Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu đạt 41,6 triệu USD; công ty TNHH Green River Wood & Lumber (Việt Nam) kim ngạch xuất khẩu được 40,8 triệu USD… 20 doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm gỗ đạt kim ngạch cao nhất năm 2006 chiếm 26,8% tổng kim ngạch, đạt 510,22 triệu USD.

Một số công ty đã tham gia niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán như công ty CP hợp tác kinh và XNK Savimex (mã CK là SAV), kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ đạt 15 triệu USD trong năm 2006…

3 .Thị trường xuất khẩu:

Mỹ vẫn là thị trường nhập khẩu sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch trong tháng 7/2007 đạt trên 81,6 triệu USD, tăng 25,6% so với tháng 7/06. Tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam sang thị trường này 7 tháng đầu năm đạt 508,3 triệu USD, tăng 27,6% so với cùng kỳ năm ngoái và chiếm 38,8% tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ. Các sản phẩm chủ yếu xuất sang thị trường này vẫn là đồ nội thất dùng trong phòng ngủ như giường gỗ, tủ áo, bàn trang điểm, kệ đầu giường… Những năm gần đây, xuất khẩu các sản phẩm gỗ nội thất của Việt Nam sang thị trường Mỹ đã gia tăng khá nhanh. Tính chung cả sản phẩm gỗ và nội thất, xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ đã tăng gấp 56 lần, từ 16 triệu USD (năm 2001) lên 902,5 triệu USD (năm 2006). Theo một con số thống kê, năm 2001 Việt Nam chỉ mới xuất khẩu vào Hoa Kỳ một lượng rất nhỏ đồ gỗ, 16,1 triệu USD, chiếm 0,06% tỷ trọng nhập khẩu đồ gỗ của nước này. Sang năm 2002, con số này nhảy vọt, đạt 44,7 triệu USD, tăng 178% so với 2001 và vượt qua cả tốc độ tăng trưởng của tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Hoa Kỳ 1,84 lần, đạt tỷ trọng 10% tổng kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của cả nước. Những năm tiếp theo đó, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam sang Hoa Kỳ tuy vẫn giữ ở mức độ khá cao, song đã có nhiều dấu hiệu thiếu ổn định. Năm 2003 đạt 116 triệu USD, tăng 160% và đây là mức tăng cao nhất trong số 25 nước xuất khẩu đồ gỗ hàng đầu sang Mỹ, tăng gần gấp 6 lần tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ (98%) và chiếm 20% thị phần đồ gỗ của Việt Nam.Đến năm 2004, con số này là 388 triệu USD, tăng 235% và là mức tăng kỷ lục do năm đầu Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực. Hoa Kỳ trở thành nhà nhập khẩu đồ gỗ lớn nhất của Việt Nam và hàng đồ gỗ của Việt Nam vào thị trường này đứng thứ 3 sau dệt may và giày dép. Đến năm 2005, bắt đầu có dấu hiệu đi xuống khi kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ chỉ đạt 697 triệu USD trong số 1,53 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam (chiếm 79%). Tốc độ tăng trưởng năm 2006 là 29% với 902,5 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu. Riêng quý I/2007, kim ngạch đạt được 277,7 triệu USD, tăng được 49% so cùng kỳ. Xuất khẩu đồ gỗ nội thất của Việt Nam vào Mỹ tăng nhanh là do một số nguyên nhân, trong đó yếu tố quan trọng là Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ đã bắt đầu có hiệu lực. Theo đó, thuế nhập khẩu đồ gỗ từ Việt Nam giảm mạnh, trung bình từ 50 – 55% xuống còn 0 – 3%. Ngoài ra, đối với thị trường Hoa Kỳ, đồ gỗ Việt Nam được đánh giá là có chất lượng, kiểu dáng sáng tạo và có giá khá cạnh tranh so với một số nước, đứng thứ năm trong số 10 nước xuất khẩu gỗ lớn nhất vào Hoa Kỳ, sau Trung Quốc, Canada, Mexico và Italia.

Kế đến là Nhật Bản, kim ngạch xuất sang Nhật Bản trong tháng 7 đạt trên 24,66 triệu USD, tăng 23,2% so với tháng 7/06, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ sang thị trường này 7 tháng đầu năm đạt trên 177,8 triệu USD, tăng 19,7% so với cùng kỳ năm 2006. Các mặt hàng đồ gỗ của Việt Nam xuất vào Nhật Bản khá đa dạng, bao gồm đồ gỗ nội thất, đồ gỗ công nghiệp ván sàn, khung tranh, hòm, hộp, đồ gỗ trang trí… Trong đó đồ gỗ nội thất chiếm tỉ trọng lớn. Trong đó đồ gỗ nội thất chiếm tỉ trọng lớn (từ 72 – 82% từng năm), đứng thứ 2, sau Trung Quốc XK vào Nhật Bản. Dự kiến kim ngạch XK đồ gỗ sang Nhật Bản tới năm 2010 là khoảng 700 triệu USD, tốc độ tăng trưởng bình quân 25%/năm. Trong đó nhóm hàng đồ gỗ nội thất khoảng 550 triệu USD, tốc độ tăng trưởng bình quân 28%/năm. Đồ gỗ Việt Nam XK sang Nhật Bản từ năm 2004 – 2006 đạt tốc độ tăng trưởng khá. Năm 2004: đạt 180 triệu USD; năm 2005: 240 triệu USD; năm 2006: 286 triệu USD.

Đứng thứ 3 sau Mỹ và Nhật Bản là thị trường Anh, với kim ngạch xuất khẩu trong tháng 7 đạt 12,46 triệu USD, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Anh 7 tháng đầu năm đạt 120,6 triệu USD, tăng 36,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Theo số liệu thống kê, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam vào thị trường Anh trong tháng 2 đạt trên 12,7 triệu USD, tăng 41,1% so với cùng kỳ năm 2006, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của ta vào thị trường này 2 tháng đầu năm đạt 32,6 triệu USD, tăng 37% so cùng kỳ năm ngoái. Về cơ cấu sản phẩm gỗ xuất khẩu vào thị trường Anh: xuất khẩu ghế và các bộ phận của ghế chiếm tỷ trọng cao nhất với kim ngạch xuất khẩu 2 tháng đầu năm đạt 11 triệu USD, chiếm 33,7% (trong tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ tới thị trường này). Trong đó kim ngạch xuất khẩu ghế nguyên chiếc chiếm 58%. Đơn giá trung bình của mặt hàng ghế nguyên chiếc xuất khẩu vào thị trường Anh trong tháng 2 đạt 25,9 USD/chiếc – FOB, giảm 5,83 USD/chiếc so với tháng 1. Tiếp đến là đồ nội thất dùng trong phòng khách và phòng ăn, đạt kim ngạch trên 10,5 triệu USD trong 2 tháng đầu năm và chiếm 32,2% tỷ trọng. Kim ngạch xuất khẩu đồ nội thất dùng trong phòng khách và phòng ăn trong quý I đạt khoảng 12,6 triệu USD, tăng 30,5% so với cùng kỳ năm 2006. Kim ngạch xuất khẩu đồ nội thất dùng trong phòng ngủ của Việt Nam vào thị trường Anh 2 tháng đầu năm cũng đạt khá, gần 5 triệu USD, chiếm 15,3% tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ. Đơn giá trung bình của mặt hàng giường nguyên chiếc xuất khẩu vào thị trường Anh trong tháng 2 đạt 78,71 USD/chiếc – FOB, tăng 11,26 USD/chiếc.

Trung Quốc, vươn lên đứng thứ 4 với kim ngạch tăng trưởng vượt bậc đạt trên 16 triệu USD trong tháng 7, tăng 60,6% so với tháng 7/06. Tổng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này 7 tháng đầu năm đạt 88,8 triệu USD, tăng 127% so với cùng kỳ năm 2006. Tuy nhiên, sản phẩm gỗ xuất khẩu sang Trung Quốc chủ yếu là gỗ, ván nguyên liệu, dăm gỗ và đồ gỗ mỹ nghệ.

Ngoài ra, xuất khẩu sản phẩm gỗ sang một số thị trường khác cũng khá tiềm năng như kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ sang Hàn Quốc 7 tháng đầu năm 2007 đạt 48,6 triệu USD, tăng 24,3%; Kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Hàn Quốc trong năm 2006 đạt 65,7 triệu USD, tăng 32,2% (tăng 16 triệu USD) so với năm 2005. Các mặt hàng xuất khẩu chính: Đồ nội thất phòng khách (trong đó chủ yếu là bàn ghế và tủ); Ghế; Đồ nội thất và đồ dùng trong nhà bếp; Gỗ nguyên liệu; Đồ nội thất phòng ngủ (giường; bàn ghế; kệ).

Canada: Kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này trong năm 2006 đạt 33,5 triệu USD; tăng 90,2% (tăng 15,9 triệu USD) so với năm 2005. Các mặt hàng chính: Đồ nội thất phòng khách (bàn ghế, tủ); Đồ nội thất phòng ngủ (giường; tủ; bàn trang điểm); Ghế; Đồ nội thất văn phòng (bàn ghế, tủ)… ; 7 tháng đầu năm 2007 đạt 23,2 triệu USD, tăng 36,1%…Đây là một thị trường tiềm năng đối với sản phẩm gỗ xuất khẩu của Việt Nam, kim ngạch nhập khẩu đồ nội thất bằng gỗ các loại của thị trường này từ năm 2000 đến nay liên tục tăng mạnh. Năm 2007, tiêu dùng đồ nội thất của Canada được dự báo tiếp tục tăng trưởng và nhập khẩu đồ nội thất của nước này sẽ tiếp tục tăng. Thị phần nhập khẩu đồ nội thất của Canada từ Việt Nam hiện chỉ chiếm khoảng 3% kim ngạch nhập khẩu đồ nội thất của nước này. Nền kinh tế Canada tăng trưởng khả quan hơn kinh tế Mỹ, với mức tăng 2,9 trong năm 2005 và tăng trưởng ổn định đến năm 2007. Ngành xây dựng của nước này ước tăng 3,6% năm 2006. Nhu cầu về tiêu thụ đồ nội thất của nước này tăng trưởng khá ổn định.

Ôxtrâylia: Kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Ôxtrâylia trong năm 2006 đạt 54,5 triệu USD, tăng 30,1% (tăng 12,1 triệu USD) so với năm 2005. Các mặt hàng xuất khẩu chính: Đồ nội thất phòng khách (tủ, bàn ghế, kệ TV); Đồ nội thất phòng ngủ (giường, tủ, bàn ghế); ghế… Ôxtrâylia là một nước có môi trường kinh tế và chính trị khá ổn định, chính sách thương mại minh bạch. Hơn nữa, nhu cầu nhập khẩu sản phẩm gỗ của thị trường này khá cao, trong khi thị phần sản phẩm gỗ của ta tại thị trường này còn nhỏ bé. Với tất cả những thuận lợi trên thì đây vẫn còn là thị trường rất tiềm năng và năm 2006, xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam sang thị trường Ôxtrâylia sẽ tiếp tục tăng.

Kim ngạch xuất khẩu sang Đức 7 tháng đầu năm 2007 đạt trên 47,84 triệu USD, tăng 22,1%

4 Thuận lợi và khó khăn:

4.1 Thuận lợi:

– Sau khi gia nhập WTO, doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam được giảm thuế nhập khẩu gỗ nguyên liệu cũng như giảm thuế xuất khẩu sản phẩm hàng hoá vào thị trường các nước. Chi phí giảm là một trong những yếu tố quyết định hiệu quả kinh doanh cũng như tạo ra lợi thế cạnh tranh trên thương trường. Cơ hội vàng đã đến với ngành sản xuất đồ gỗ xuất khẩu. Vấn đề còn lại là làm thế nào để khai thác tối đa lợi thế đó.

– Từ 1/5/2004, Mỹ đánh thuế chống bán phá giá rất cao đối với mặt hàng đồ gỗ của Trung Quốc – đối thủ cạnh tranh chín của Việt Nam tại thị trường Mỹ. Đây là điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp (DN) sản xuất chế biến đồ gỗ Việt Nam tăng cường xuất khẩu vào Mỹ. Trong khi đó, thị trường EU với đồ gỗ Việt Nam ngày một mở rộng, các quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản cũng tạo ra một sân chơi mới và rộng lớn cho đồ gỗ Việt Nam.

– Hiện nay, hàng đồ gỗ giá rẻ của Trung Quốc chiếm thị phần khá lớn tại thị trường Nhật Bản. Và theo nhận định của các chuyên gia Nhật Bản thì chỉ có hàng của Việt Nam mới có thể cạnh tranh được với hàng của Trung Quốc. Việt Nam có lợi thế vì có lao động giỏi và rẻ. Hàng Việt Nam có những điểm mạnh và cơ hội khác để vào thị trường Nhật Bản với thuế suất 0% là ngày càng có nhiều người Nhật có “cảm tình” với hàng Việt Nam. Chi phí vận chuyển từ Việt Nam sang Nhật tương đương với chi phí vận chuyển bên trong nước Nhật dù rằng đoạn đường vận chuyển bên trong ngắn hơn. Những cơ hội này có thể giúp tạo được mối quan hệ lâu dài cho hàng Việt Nam trên thị trường Nhật.

– Các chính sách về đầu tư ngành gỗ của Đảng và Nhà Nước rất rõ ràng, công minh, phù hợp đối với nền kinh tế nói chung và nói riêng là đối với các doanh nghiệp đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến gỗ, luôn kêu gọi và luôn khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư vào ngành này.

– Việt Nam rất ổn định về chính trị, an ninh quốc phòng: đây là điểm rất thuận lợi, các doanh nghiệp an tâm đầu tư và mở rộng đầu tư các ngành kinh tế tại nước nhà.

– Từ xưa, tay nghề của từng nhóm thợ mộc và chạm khắc tự truyền dạy cho nhau đã đạt tới mức rất điêu luyện thể hiện qua những tác phẩm mộc, điêu khắc trong các đình chùa. Ngày nay những sản phẩm chế biến gỗ của chúng ta cũng ngày càng tinh xảo, tinh tế, hồn Việt trong những sản phẩm đồ gỗ chất lượng cao sản xuất tại Việt Nam đã thuyết phục cả những thị trường khóa tính trên thế giới.

– Đang có xu hướng hình thành các doanh nghiệp chế biến gỗ có quy mô trên turng bình với trình độ quản lý, thiết bị, tay nghề công nhân, được khách hàng đặc biệt chú ý.

– guồn nhân lực Việt Nam ta dồi dào, phong phú. Nguồn tri thức của người lao động Việt Nam đủ sức và thừa sức để tiếp nhận và ứng dụng các công nghệ cao cấp, quy trình kỹ thuật tiên tiến của sự phát triển tri thức tòan cầu.

4.2 Khó khăn:

– Thị phần đồ gỗ Việt Nam trong danh mục thị phần đồ gỗ nhập khẩu (NK) của nước ngoài còn quá nhỏ bé. Chúng ta có những thị trường xuất khẩu tiềm năng nhưng chúng ta chưa khai thác hết. Việt Nam có đội ngũ thợ cần cù, sáng tạo và tài hoa, nhưng giá nhân công rẻ, chưa thoả đáng, nên chưa phát huy được tối ưu tiềm năng con người trong quá trình sản xuất. Đã bắt đầu xảy ra tình trạng, một số nghệ nhân tay nghề cao “nhảy” từ các DN trong nước các DN sản xuất đồ gỗ nước ngoài ở Việt Nam

– Từ khi bị Mỹ đánh thuế chống bán phá giá cao, một số DN sản xuất chế biến gỗ Trung Quốc bắt đầu đầu tư ồ ạt sang sản xuất tại Việt Nam để tránh hàng rào thuế nhập khẩu cao của Mỹ. Điều này khiến cho các DN sản xuất đồ gỗ Việt Nam có thêm những đối thủ ngay cùng một sân chơi… Các nhà sản xuất đồ gỗ Trung Quốc sẽ sản xuất tại Việt Nam rồi xuất khẩu sang Mỹ và cạnh tranh gay gắt với đồ gỗ Việt Nam tại đây. Nhưng có lẽ, điều lo ngại hơn cả là các DN Trung Quốc rất biết tận dụng nhân công Việt Nam, biết cách khai thác bàn tay tài hoa của những người thợ. Và đặc biệt, họ có những quy trình công nghệ sản xuất hiện đại hơn các DN Việt Nam rất nhiều.

– Giá nguyên liệu gỗ. Nguyên liệu gỗ trong nước đang không đủ đáp ứng cho nhu cầu chế biến gỗ xuất khẩu của Việt Nam. Tài nguyên gỗ đã bị cạn kiệt do khai thác bừa bãi nên ta phải nhập tới 80% gỗ nguyên liệu. Hiện giá nguyên vật liệu gỗ đang tăng do nạn cháy rừng, lũ lụt, môi trường suy thoái… Nhiều nước như Lào, Myanmar, Indonesia – vốn là bạn hàng cung cấp gỗ nguyên liệu chủ yếu cho ta – nay đã ra lệnh cấm xuất khẩu gỗ thô. Ta phải nhập gỗ đã qua sơ chế, nên giá thành đắt. Hơn nữa, chi phí cho cước vận chuyển cũng không nhỏ, do giá dầu mỏ và nhiên liệu thế giới tăng. Ước tính, trong 3 năm qua, giá nguyên liệu gỗ vào Việt Nam đã tăng từ 20-22%. Điều này làm giảm đáng kể lợi nhuận của các DN.

– Việt Nam chưa có tiếng nói chung về sự phát triển của thị trường, hầu như việc phát triển thị trường là tự phát từ hướng các doanh nghiệp, doanh nghiệp tự lực, tự cường trong việc tìm kiếm khách hàng, tìm kiếm thị trường và tự dò tìm các phương hướng phát triển kinh tế, đầu tư sản xuất mà không có bất kỳ sự tập trung chỉ đạo, hướng dẫn những đường lối sáng suốt và kịp thời từ phía Chính Phủ, từ Hiệp hội ngành gỗ.

– Ngành chế biến gỗ của Việt Nam còn mang tính đầu tư và sản xuất nhỏ, sản xuất mang tính thủ công, tính cách gia đình, việc tích lũy vốn, để đầu tư thiết bị máy móc hiện đại của các nước tiên tiến không được chú trọng. Các nhà sản xuất nhỏ là tác nhân gây nên sự mất cân đối về giá cả xuất khẩu. Do sản xuất nhỏ, chi phí sản xuất chủ yếu là chi phí công lao động thấp, không phải chịu những khoản thuế, các chi phí đónng BHXH, BHYT và các chế độ khác cho người lao động, giá thành cấu thành cho sản phẩm xuất khẩu thấp, vì vậy họ đưa ra giá chào bán sản phẩm xuất khẩu thấp, tạo nên sự mất cân đối về hệ thống giá cả xuất khẩu trong nước và từ giá cả này mà khách hàng áp đặt giá và gây áp lực đối với các doanh nghiệp đầu tư sản xuất lớn. Và đẩ có thể nhận được đơn hàng từ khách hàng, các doanh nghiệp buộc phải chấp nhận sản xuất với giá thấp, ít lợi nhuận và có lúc không có lợi nhuận, và điều này kéo theo hàng loạt doanh nghiệp lớn phá sản , đóng cửa.

– Đối với các doanh nghiệp trong ngành sản xuất chế biến gỗ, họ không có bất kỳ sự tư vấn, tham mưu nào của các công ty tư vấn, các Hiệp hội ngành gỗ, hoặc các cơ quan hữu quan, dẫn đến việc mất phương hướng mở rộng đầu tư, đi sau các nước bạn về đầu tư công nghệ, máy móc, và hiển nhiên thua kém nước bạn về chiếm thị phần trên thương trường quốc tế.

– Các doanh nghiệp mới muốn xâm nhập, đầu tư vào ngành sản xuất gỗ, cũng không có bất kỳ sự tư vấn, hướng dẫn nào về các kế hoạch, dự án đầu tư máy móc, thiết bị, công nghệ mới của thế giới, họ bị động và dẫn đến nhiều doanh nghiệp tự đầu tư và đầu tư sai, không mang lại hiệu quả trong sản xuất, vì thực tế do các thiết bị, máy móc, công nghệ đầu tư không phù hợp với sự phát triển ngành chế biến gỗ toàn cầu.

– Sự bất ổn về nguồn nhập khẩu nguyên liệu gỗ, phục vụ cho sản xuất do ảnh hưởng đến cách chính sách của các nước xuất khẩu cho chúng ta.. Hơn 80% nguyên liệu gỗ phục vụ cho ngành xản xuất chế biến gỗ đều phải nhập khẩu, và đa số nhập khẩu từ Malaysia, Indonesia, đây là những nước thường xuyên thay đổi về chính sách xuất khẩu gỗ, lúc cho xuất khẩu, lúc lại cấm không cho xuất khẩu gỗ, yếu tố này hết sức khó khăn, bị động cho các doanh nghiệp, gây sự bị động trầm trọng trong sự phát triển ngành chế biến gỗ.

– Việt Nam chưa có các cảng gỗ, chợ gỗ, các nhà máy chuyên xẻ gỗ, cung cấp cho các nhà máy chế biến, chưa có trung tâm nguyên phụ liệu cung ứng các sản phẩm gỗ để các nhà sản xuất yên tâm làm ăn.

– Ở một số địa phương thủ tục hải quan còn chậm và kéo dài từ khai báo, kiểm hóa đến chứng nhận thực xuất, hoàn thuế giá trị gia tăng, vừa làm tăng chi phí, thậm chí làm đổ vỡ kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp, thâm hụt vốn kinh doanh. Thủ tục đóng dấu búa vào gỗ nhập khẩu cũng gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc nhập khẩu gỗ nguyên liệu.