Kinh nghiệm của một số nước về phân phối

1.Sự vận dụng nguyên tắc phân phối của chủ nghĩa xã hội tại Liên Xô

Trong thời gian đầu sau chiến tranh, nền kinh tế Liên Xô gặp nhiều khó khăn do hậu quả của chiến tranh. Hơn nữa, trong xã hội Liên Xô lúc đó tồn tại nhiều giai cấp: những địa chủ còn sót của xã hội phong kiến, những nhà tư bản non trẻ mới xuất hiện ở Liên Xô và giai cấp công nhân tầng lớp chính và chiếm vai trò chủ đạo trong việc điều hành đất nước sau chiến tranh.

Một yêu cầu đặt ra là phải điều tiết việc tiêu dùng trong xã hội. Đầu tiên là việc dùng phiếu bánh mì – kiểu điều tiết tiêu dùng cổ điển của những tư bản lúc bấy giờ, nhằm thực hiện một nhiệm vụ: phân phôi bánh mì hiện có, làm sao cho ai nấy đều có bánh ăn. Nhưng việc thực hiện đó gặp nhiều khó khăn do sự phá hoại của thế lực thù địch vì vậy chính phủ đã dề ra một chính sách mới: trước hết chính sách đó phải thêm vào chế độ phiếu bánh mì việc cưỡng bức tập hợp toàn thể nhân dân thành những hội tiêu dùng vì đó là phương phấp duy nhất để thực hiện dược việc kiểm soát tiêu dùng ; hai là bắt bọn nnhà giáu phải làm nghĩa vụ lao động, chúng phải đảm nhiệm những chức vụ không công trong các hội tiêu dùng ; ba là phân đều cho nhân dân tổng số thực tế của sản phẩm trong xã hội để đảm bảo công bằng.

Chính quyền Xô viết lúc đó kiên quyết tiếp tục thay thế việc buôn bán bằng chế độ phân phối sản phẩm một cách có kế hoạch và có tổ chức trên quy mô toàn quốc. Mục đích là tổ chức toàn thể nhân dân vào các công xã sản xuất và tiêu dùng có khả năng phân phối tất cả những sản phẩm cần thiết một cách nhanh chóng nhất, có kế hoạch nhất và tiết kiệm nhất, tốn ít nhân công nhất, bằng cách tập trung chặt chẽ bộ máy phân phối. Và hợp tác xã là một phương tiện quá độ để thực hiện mục đích đó. Việc sử dụng hợp tác xã là một vấn đề giống như việc sử dụng chuyên gia tư sản vì đứng đầu bộ máy hợp tác xã do CNTB để lại là những người có thói quen suy nghĩ và quản lý kinh tế của tư sản. Đảng Cộng sản Nga buộc tất cả các đảng viên phải làm việc trong hợp tác xã, lãnh đạo các hợp tác xã đó phải theo tinh thần cộng sản, làm cho tổng thể nhân dân đều vào hợp tác xã và biến các hợp tác xã đó từ trên xuống dưới thành một hợp tác xã thống nhất cả nước. Đặc biệt là việc chuyển đổi từ chế đọ trưng thu lương thực trong chính sách cộng sản thời chiến sang thuế lương thực cho phù hợp với nhân dân và thực hiện mục tiêu công bằng. Mặt khác, Đảng cộng sản Nga còn sử dụng biện pháp quản lý sự phân phối thông qua sự kiêm kê và kiểm soát của toàn dân đối với sản xuất và phân phối sản phẩm.

2. Vấn đề phân phối trong quá trình phát triển kinh tế Trung Quốc thời kỳ cải cách

Chúng ta sẽ nghiên cứu vai trò của phân phối đặc biệt là phân phối thu nhập trong quá trình phất triển kinh tế của Trung Quốc.Trung Quốc là một đất nước có dân số đông, kinh tế – văn hoá lạc hậu, nhưng 20 năm qua nhờ thực hiện cải cách mở cửa mà bộ mặt kinh tế – xã hội của nước này đã thay đổi rõ rệt. Từ thực tiễn đó, các nhà khoa học Trung Quốc đã rút ra nhận xét cho răng: “Phân phối thu nhập không chỉ biểu hiện một kết quả của tăng trưởng kinh tế, đồng thời nó lại ảnh hưởng, thậm chí là một đại lượng biến đổi quan trọng quyết định kinh tế tăng trưởng”

Trong thời gian đầu khoảng 20 năm trước cải cách (1956-1976), trung Quốc là một xã hội có trình độ bình quân hoá rất cao nhưng cung lại là một xã hội vẫn tồn tại một số nhân tố bất bình đẳng. Xã hội Trung Quốc như vậy là do: Chế độ XHCN ở Trung Quốc là chế độ lấy công hữu về tư liệu sản xuất nên sau khi từng bước thực hiện công hữu hoá về tư liệu sản xuất, người dân trừ một số ít thu nhập từ lãi suất tiêt kiệm ra còn hầu như không có thu nhập tài sản khác; và ình hình đất nước trong thời kỳ đấu cần tăng tích luỹ, giảm tiêu dùng, nên thu nhập lao động cũng được bình quân ở mức thấp. Nhưng s ự chênh lệch thu nhập giữa các tầng lớp nhân dân và các khu vực là khá lớn. Về phương thức phân phối hàng tiêu dùng, Trung Quốc đã nhấn mạnh phương thức phân phối hiện vật, tức là thực hiện chế độ cung cấp, bài xích phương thức phân phối theo thị trường (thông qua tiền tệ mua bán).
Sau khi cải cách mở cửa đến nay quá trình phân phối thu nhập ở Trung Quốc có nhiều đột phá về lý luận: Đã đột phá vào quan niệm bình quân chủ nghĩa, xây dựng lý luạn cho phếp một số vùng một số người giàu lên trước, khuyến khích người giàu trước giúp đỡ người giàu sau, cuối cùng thực hiện cùng giàu có; Thực hiện chính sá “ưu tiên hiệu quả, chiếu cố công bằng” tức là tiến hành phân phối theo số lượng, chất lượng, hiệu suất lao động và bảo hộ thu nhập hợp pháp, thôn tính thu nhập phi pháp…; Đã đột phá vào quan điểm truyền thống cho rằng:phân phối theo lao động là đặc diểm của CNXH, phân phối theo vốn là đặc điểm của CNTB, xây dựng lý luận kiên trì phân phối theo lao động là chính, cho phép yếu tố sản xuất tham gia vào phân phối; Xây dựng và kiện toàn hệ thống bảo hiểm xã hội thích ứng với nền kinh tế thị trường XHCN.

Nhờ những chính sách và đổi mới đó nền kinh tế Trung Quốc đã đạt được một số thành tựu đáng kể: Nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao, tăng trưởng GDP bình quân hàng năm 1979-1997 đạt 9,8%, trở thành cường quốc đứng thứ 7 thế giới về kinh tế; Hàng hoá từ chỗ trước đây thiếu đã trở nên phong phú đáp ứng nhu cầu nội địa và xuất khẩu; Mức thu nhập và tiêu dùng của người dân được cải thiện và nâng cao, tăng trưởng GDP bình quân đầu người đã từ 379 NDT(1978) tăng lên 6079 NDT(1997); Mức tiêu dùng của dân cư cả nước từ 184 NDT (1979) lên đến 2036 NDT(1997).