Kinh nghiệm của tỉnh Thừa Thiên Huế về vai trò của chính quyền cấp tỉnh về giảm nghèo bền vững vùng miền núi của một số địa phương

Thứ nhất, đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng vùng miền núi

Thừa Thiên Huế là một tỉnh có nhiều khó khăn. Trên địa bàn tỉnh còn khá nhiều huyện miền núi nghèo. Để thực hiện GN các huyện miền núi, tỉnh đã chủ trương đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng cho các huyện này. Trong vòng 5 năm qua, cơ sở vật chất kỹ thuật trên địa bàn khu vực miền núi đã có cải thiện, nhất là đối với các công trình giao thông, thuỷ lợi, nước sinh hoạt. Cụ thể, có 247 công trình được triển khai  thực hiện và đưa vào sử dụng, tăng thêm 50 km đường giao thông nông thôn được bê tông hóa. Tạo điều kiện cho giao thương, buôn bán hàng hóa phát triển. Hạ tầng điện  lực cũng được cải thiện, nhờ vậy bà con có cơ hội để tiếp cận đến thông tin quan trọng về sản xuất kinh doanh.

Đơn cử như huyện Nam Đông của tỉnh, trước đây là một vùng đất khó khăn địa hình có nhiều đồi núi cách trở. Toàn huyện có 12 xã và thị trấn thì có tới 7 xã đặc biệt khó khăn, đồng bào DTTS có 1.628/4.145 hộ, tỷ lệ hộ nghèo là 35,4% (năm 2010). Nhưng hiện nay, Nam Đông đã mang một bộ mặt mới, với cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật được tăng cường, có đường trải bê-tông, hệ thống trường học, trạm y tế được đầu tư xây dựng mới. Đến nay Huyện đã chính thức xin rút khỏi Chương trình 135. Có  được thành tựu đó là do Huyện đã được tỉnh tập trung mọi nguồn lực từ chương trình 135 đầu tư cho kết cấu hạ tầng, làm nền  tảng phát triển KT-XH. Để có thêm nguồn  vốn, ngoài hỗ trợ của Chương trình 135 và của tỉnh, Nam Đông đã thực hiện các chính sách phù hợp với thực tiễn của địa phương như thực hiện tiết kiệm để mỗi năm dành ra 400 – 500 triệu đồng cho nguồn vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng. Đặc biệt, hệ thống thủy lợi và các mô hình phát triển kinh tế trang trại được chính quyền quan tâm tìm hiểu và tuyên truyền cho bà con .

Để phát triển kết cấu hạ tầng các huyện miền núi, tỉnh không đầu tư, hỗ trợ một cách dàn trải, nhờ vậy mà chương trình GNBV  và đảm bảo an sinh xã hội của tỉnh  được triển khai hiệu quả ở nhiều xã, nhất là những xã có tỷ lệ hộ nghèo cao. Người nghèo được hỗ trợ vốn, tạo điều kiện tiếp cận các quỹ đất sản xuất, trợ giúp  về kỹ  thuật. CQCT đã xây dựng trên 110 mô hình sản xuất, kinh doanh phù hợp  với  tình  hình thực tế địa phương (Nguyễn Đức Nhật và cộng sự, 2013); (Sở LĐ-TBXH tỉnh Thừa Thiên Huế, 2018).

Thứ hai, khơi dậy ý thức tự vươn lên thoát nghèo của những người nghèo

Các cấp chính quyến địa phương đã chủ động tiếp cận với các đối tượng người nghèo, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của họ từ đó nghiên cứu, đề ra chính sách phù    hợp để nâng cao trình độ nhận thức và hiểu biết của người nghèo. Động viên, khích lệ người nghèo từ bỏ mặc cảm tự ti, xấu hổ về thân phận nghèo của mình, rời bỏ các tập quán sản xuất truyền thống lạc hậu năng suất thấp để tham gia sinh hoạt cộng đồng, tham gia lao động sản xuất theo mô hình mới, vừa nhằm cải thiện giao tiếp của người nghèo, đồng thời tạo cơ hội để họ nắm bắt thông tin về chính trị, văn hoá – xã hội của đất nước, của tỉnh và tại địa phương, từng bước  ứng dụng các tiến bộ công nghệ vào  sản xuất kinh doanh để tạo việc làm và tăng thu nhập.

Chính quyền địa phương tại các cấp đã thực hiện tốt đối với tuyên truyền vận  động, nâng cao ý thức cho người dân vùng miền núi để người dân vươn lên thoát  nghèo. Tạo tính chủ động cho các hộ đồng bào, nhất là người nghèo trong quá trình tạo đất sản xuất, kinh doanh. Các vùng cà phê ở A Lưới, cao su  ở  Nam Đông,  Hương Trà, Phong Điền… dần dần được quan tâm đầu tư và mang lại hiệu quả ngày càng cao. Không còn tình trạng gây khó khăn cho người sản xuất kinh  doanh,  nhất là nông dân.

Đối với các đối tượng người nghèo lười biếng, rơi vào tệ nạn xã hội, không chịu tham gia lao động sản xuất, thì tỉnh chủ trương thông qua họp tổ dân cư định kỳ, qua sinh hoạt của các tổ chức hội, đoàn thể tại cơ sở để nhắc nhở, động viên, thuyết phục  họ, làm cho họ nhận thức được lười lao động sẽ không thể thoát ra khỏi nghèo đói, là điều đáng xấu hổ, không đảm bảo tương lai của con em, không cải thiện được cuộc  sống của cả gia đình, từ đó có chí hướng và động lực để tham gia lao động sản xuất, có việc làm ổn định và đem lại thu nhập cho gia đình để cải thiện đời sống.

Để khơi dậy ý thức tự vươn lên thoát nghèo của những hộ nghèo có vai trò rất lớn của các cán bộ trực tiếp tham gia, quản lý và thực hiện GN tại các cấp. Vì vậy, tỉnh đã đặc biệt chú trọng đến đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp   vụ cho đội ngũ cán bộ này, từ đó để giúp cán bộ có thêm kinh nghiệm, tuyên truyền, vận động cho người nghèo vươn lên thoát nghèo.

Thứ ba, chính quyền cấp tỉnh tập trung vào phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào các huyện vùng miền núi cao, nhất là chú trọng việc thay đổi tập quán canh tác   của đồng bào

Để thực hiện được điều này, thông qua các trung tâm khuyến nông, khuyến lâm, tỉnh đã tổ chức nhiều lớp tập huấn, chuyển giao kiến thức với biện pháp bắt tay  chỉ  việc, xem đây là đòn bẩy để thoát nghèo. Cán bộ khuyến nông, khuyến  lâm tỉnh  kết hợp với cán bộ khuyến nông, khuyến lâm huyện luôn sát cánh cùng người nghèo để chuyển giao quy trình kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp, nhất là về giống cây trồng. Trên thực tế, Nhà nước hỗ trợ 50% chi phí về con giống và hỗ trợ 100% phân bón để giúp người dân có cơ hội GN. Do vậy, ở nhiều xã đã có nhiều điểm mới trong triển   khai sản xuất kinh doanh như xã Hồng Thuỷ, xã Hồng Bắc, xã A Ngo, xã A Đớt, xã Hồng Thượng, xã Hồng Trung, xã Đông Sơn. Nhiều xã đã xây dựng  nhiều  mô hình  sản xuất kinh doanh trang trại, trồng trên 10 ha chuối hàng hoá, trên 30 ha cây cao su, khoảng 15 ha phát triển kinh tế rừng (Nguyễn Đức Nhật và cộng sự, 2013); (Sở LĐ- TBXH tỉnh Thừa Thiên Huế, 2018).