Kinh nghiệm của Trung Quốc về phát triển bền vững hàng thủ công mỹ nghệ mây tre lá

Sau hơn 20 năm thực  hiện cải cách, mở cửa ngành TCMN Trung Quốc đang từng  bước SX hướng về XK và đạt được nhiều thành tựu to lớn góp phần phát triển KT, XH và bảo vệ MT. Để khuyến khích SX hàng TCMN, Trung Quốc đưa ra một số chính sách như sau:

Đa dạng hóa nguồn NVL tập trung vào các loại cây trồng có giá trị KT cao và  cải thiện chất lượng SP, ưu tiên đặc biệt cho những SP có hàm lượng chất xám cao theo hướng toàn diện được coi là định hướng cơ bản của Trung Quốc.

Đầu tư trọng điểm cho khâu bảo quản và chế biến. Trung Quốc đã cho xây dựng và phát triển mô hình “xí nghiệp đầu rồng”, miễn toàn bộ thuế sử dụng đất đối với việc tái đầu tư để mở rộng SX, miễn thuế thu nhập công ty cho phần doanh thu có được từ chuyển giao công nghệ, tư vấn và các dịch vụ kỹ thuật.

Chiến lược phát triển ngành dịch vụ thiết kế. Các chuyên gia Trung Quốc đã khái quát rằng “Mười lăm năm trước các công ty cạnh tranh về giá, hiện tại đang cạnh tranh về chất lượng, nhưng ngày mai sẽ là thiết kế” và “Trong nền KT toàn cầu, thiết kế    trở thành một lợi thế so sánh mang tính quyết định”. Bên cạnh các chính sách và cơ sở hạ tầng hỗ trợ thiết kế, thì đào tạo thiết kế cũng được xem là một trong những phương tiện quan trọng trong việc thúc đẩy các chiến lược thiết kế mang tầm quốc gia. Đầu những năm 1990, ở Trung Quốc hàng năm chỉ có khoảng 1.500 sinh viên tốt nghiệp ngành thiết kế  công nghiệp ra trường nhưng hiện nay con số này đã lên đến 10.000 người tại 400 trường đào tạo về thiết kế. Trong những năm gần đây, Đại học Tsinghu ở Bắc Kinh đã mở một Trung tâm thiết kế với diện tích 60.000m2, Học viện Mỹ thuật Quảng Châu cũng đã xây dựng thêm 8 toà nhà để đón các sinh viên thiết kế công nghiệp….

Đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư cho các chương trình KH&CN. Chính phủ khẳng định rằng con đường căn bản để phát triển nông nghiệp trong đó có TCMN là lấy khoa học kỹ thuật làm vũ khí, lấy công nghiệp hiện đại làm chỗ dựa, lấy TT để hướng dẫn chuyển từ nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp hiện đại, lấy khoa học kỹ thuật hiện đại làm nền tảng.

“Chương trình Đốm lửa” bắt đầu thực hiện từ năm 1985 đã tạo tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp. Cách thức triển khai của chương trình này là “nhà nước và nhân dân cùng làm”, các đơn vị thuộc mọi thành phần KT muốn tham gia chương trình phải tự   đề xuất dự án, chứng minh được tính khả thi và hiệu quả của dự án. Với cách làm này chương trình đã huy động tổng lực của nền KT, có ý nghĩa quan trọng khi vốn của ngân sách còn hạn chế, đồng thời người nông dân còn thấy được hiệu quả của áp dụng khoa học kỹ thuật và mở ra cơ hội để thúc đẩy sự sáng tạo của họ.

“Chương trình Bó đuốc” năm 1988 thể hiện sự hỗ trợ to lớn và có hiệu quả của Chính phủ nhằm cải thiện cơ bản nền nông nghiệp theo hướng hiện đại hóa, quốc tế hóa và phi nông nghiệp hóa trên cơ sở ứng dụng và phổ biến các kết quả nghiên cứu KH&CN  trong SX phù hợp với điều kiện của Trung Quốc.

Thực hiện chính sách ưu đãi đối với đội ngũ cán bộ khoa học. Chính phủ Trung Quốc đặc biệt nhấn mạnh vai trò của đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thật trong mọi lĩnh vực với triết lý thiết bị là phần “cứng”, công nghệ là phần “mềm”, nhân lực có trình độ cao là phần “sống”, trong đó phần “sống” đóng vai trò quan trọng. Nếu thiếu phần “sống” thì cả hai phần còn lại điều không thể hoạt động và có hiệu quả được. Vì vậy, Trung Quốc có nhiều chính sách như: quy định hệ số chênh lệch tiền lương giữa lương khởi điểm của cử nhân trong các cơ quan nghiên cứu và lương tối thiểu của nền KT; lương cán bộ khoa học chuyển về làm việc vùng nông thôn được hưởng thêm hệ số trung bình. Về nhân sự, thay  thế chế độ tuyển dụng suốt đời sang chế độ tuyển chọn có thời hạn ở các vị trí quan trọng  và có thể dung thời gian làm việc trong giờ để nghiên cứu KH&CN.

Điều chỉnh chính sách cho phù hợp với quy định WTO của Trung Quốc theo hướng thúc đẩy hình thành hệ thống thông tin TT, hệ thống tiêu chuẩn, an ninh và chất lượng, điều chỉnh các chính sách bảo hộ và hỗ trợ, tái cấu trúc nghiên cứu KH&CN cho ngành TCMN.