Kinh nghiệm của Việt Nam về phát triển xuất khẩu nông sản khi tham gia vào các Cộng đồng kinh tế

Việt Nam đã có kinh nghiệm trong việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu. Giá trị xuất khẩu trong năm 2001 chiếm đến 50% GDP. Ngay cả khi không tính dầu mỏ thì tỷ lệ xuất khẩu so với GDP cũng ở mức gần 40% GDP. Một số kinh nghiệm của Việt Nam mà nước CHDCND Lào cần nghiên cứu học tập như:

  • Cơ chế vận hành của thị trường đã khắc phục được tình trạng “ngăn sông, cấm chợ”, hình thành thị trường thống nhất, khá ổn định và thông suốt trong cả nước.
  • Quản lý nhà nước về thương mại có sự đổi mới từ trung ương đến địa phương. Nhà nước thiết lập và tạo môi trường pháp lý đảm bảo sản xuất, lưu thông hàng hóa nội địa và xuất nhập khẩu; qui định những mặt hàng, dịch vụ cấm kinh doanh, mặt hàng, dịch vụ kinh doanh có điều kiện và hạn chế kinh
  • Nhà nước có chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, chính sách khuyến khích phát triển các HTX, chính sách phát triển thương nghiệp miền núi, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc…
  • Về thành phần tham gia, từ chỗ chỉ có hai thành phần cơ bản là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể (năm 1985), đến nay ngoài 2 thành phần trên còn có sự tham gia của thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã có sự tham gia của thành phần kinh tế ngoài quốc doanh với tỷ trọng gần 90% tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng xã hội.

Doanh nghiệp nhà nước đã từng bước vươn lên, thích ứng với cơ chế mới, hiệu quả kinh doanh được nâng cao, giữ được vai trò nòng cốt ở những mặt hàng trọng yếu, ở những khâu và lĩnh vực then chốt, chi phối 70-75% khâu bán buôn, chiếm 20-21% tổng mức lưu chuyển bán lẻ.

  • Từng bước hình thành các kênh lưu thông của một số mặt hàng chủ yếu: với sự tham gia đông đảo của các loại hình thương nhân thuộc các thành phần kinh tế, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, gắn sản xuất với tiêu thụ, gắn thị trường trong nước với thị trường quốc tế, góp phần đẩy mạnh xuất khẩu và bảo đảm các nhu cầu trong nước. Mạng lưới kinh doanh thương mại, dịch vụ tiếp tục được mở rộng trên cả ba địa bàn: thành thị, nông thôn và miền núi, với sự tham gia của các chủ thể kinh
  • Thương mại trên địa bàn miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dẫn tộc phát triển trên nhiều mặt, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế-xã hội của các vùng này.

Từ năm 1986 đến nay chính sách ngoại thương của Việt Nam ngày càng được cải thiện theo hướng thông thoáng, giảm rào cản nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong nước đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu. Đặc biệt là việc đưa ra qui chế quản lý xuất nhập khẩu theo từng giai đoạn 5  năm đã giúp doanh nghiệp chủ động hoạch định chiến lược kinh doanh của đơn vị trong dài hạn. Luật lệ và các qui định cũng được hoàn chỉnh nhằm tạo hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp, đồng thời từng bước thoả mãn với yêu cầu hội nhập.

Việt Nam đã có kinh nghiệm trong việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu. Giá trị xuất khẩu trong năm 2001 chiếm đến 50% GDP. Chính phủ Việt Nam xóa bỏ cơ chế ngăn sông cấm chợ, quản lý nhà nước thống nhất từ trung ương đến địa phương, tạo môi trường pháp lý cho nhiều thành phần kinh tế tham gia hoạt động thương mại. Chú trọng phát triển nhiều chợ, siêu thị, mở rộng thị trường thế giới. Chính phủ có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, vùng miền núi, hải đảo, dân tộc tham gia thương mại.

Tăng trưởng thương mại của Việt Nam trong thời gian vừa qua được đánh giá  là một yếu tố tích cực góp phần tăng trưởng GDP tại Việt Nam. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu/GDP hiện đã vượt quá 100%, thể hiện mức độ liên kết mạnh mẽ của Việt Nam với nền kinh tế thế giới. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế về thương mại của Việt Nam gắn kết chặt chẽ với quá trình đổi mới chính sách TMQT nói chung và chính sách xuất khẩu hàng hóa nói riêng.

Việt Nam huyến khích xuất khẩu bằng cách:

– Sử dụng cơ chế tỉ giá để quản lý xuất khẩu của các doanh nghiệp:

+ Quản lý ngoại hối: Các khoản thu – chi ngoại tệ của doanh nghiệp phải được thông qua hệ thống ngân hàng, từ đó nhà nước sẽ chủ động điều tiết hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp.

+ Phá giá đồng nội tệ: làm gia tăng xuất khẩu do doanh nghiệp có lời do chênh lệch tỉ giá khi nhập khẩu.

  • Nhà nước bảo đảm tín dụng xuất khẩu: Nhà nước đứng ra lập Quĩ bảo hiểm xuất khẩu, Quĩ này thực hiện việc gánh vác những tổn thất, chia bớt rủi ro trong kinh doanh với nhà kinh doanh xuất khẩu.
  • Nhà nước thực hiện trợ cấp xuất khẩu: nhà nước giành ưu đãi về mặt tài chính cho nhà xuất khẩu thông qua các biện pháp hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp.
  • Nhà nước thực hiện tín dụng xuất khẩu: Nhà nước của nước xuất khẩu cho nước nhập khẩu vay vốn (lãi suất ưu đãi) để nước vay sử dụng số tiền đó mua hàng của nước cho Nguồn cho vay thường trích từ ngân sách của nhà nước và việc cho vay thường kèm theo những điều kiện kinh tế hoặc chính trị có lợi đối với bên cho vay.

Mục tiêu tổng quát của hoạt động xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2006-2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại công văn số 7153/VPCP-QHQT ngày 6-12- 2006 của Văn phòng Chính phủ là “Phát triển xuất khẩu với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, làm động lực thúc đẩy tăng trưởng GDP. Đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng xóa lợi thế cạnh tranh, đồng thời tích cực phát triển các mặt hàng khác có tiềm năng phát triển thành những mặt hàng xuất khẩu chủ lực mới, theo hướng nâng cao hiệu quả xuất khẩu. Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng có giá trị tăng cao, tăng sản phẩm chế biến, chế tạo, sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao, giảm dần tỷ trọng hàng xuất khẩu thô”. Một biệt pháp không thể thiếu của Việt Nam để đẩy mạnh xuất khẩu là hoạt động xúc tiến thương mại, nghiên cứu đặc thù thương mại biên giới, xây dựng chính sách phù hợp, đào tạo nguồn nhân lực và cung cấp thông tin về thương mại. Đồng thời phía doanh nghiệp xác định chiến lược xuất khẩu, xây dựng các dự án chuyên biệt cho từng mặt hàng xuất khẩu, nghiên cứu điều chỉnh cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng phát huy tiềm năng, nâng cao hàm lượng lao động lành nghề và khoa học công nghệ trong đơn vị sản phẩm, giảm dần thị phần hàng nguyên liệu xuất khẩu đang chiếm chủ yếu trong cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam. Nâng cao năng lực tiến hành các hoạt động marketing, xây dựng mạng lưới thương nhân tiêu thụ hàng xuất khẩu, nắm vững quy định pháp luật, thông tin về thị trường – mặt hàng và chủ động tìm kiếm các đối tác mua hàng trực tiếp.

Việt Nam thành công nhờ vào tăng trưởng xuất khẩu, Việt Nam vừa hướng về xuất khẩu, vừa mở rộng thị trường trong nước để có thể phát triển cân bằng, hiệu quả và bền vững, Việt Nam duy trì khả năng xuất khẩu vì việc xuất khẩu này cũng đóng góp vào kinh tế thế giới. Cụ thể như việc xuất khẩu gạo của Việt Nam vừa là hoạt động xuất khẩu, mặt khác là giữ vai trò đảm bảo an ninh lương thực của thế giới. Năm 2010, tốc độ tăng trưởng của Việt Nam có thể đạt 6,5%-7%, tổng kim ngạch tăng 9%, với 61,7 tỷ USD, năm 2011 tăng 8% với 66,6 tỷ USD và giai đoạn 2011-2020 sẽ có tốc độ tăng trưởng bình quân 7%-8%/năm. Đời sống người dân có tăng, thu nhập có tăng thì tiêu dùng mới tăng trưởng được. Năm 2015, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sẽ đạt hơn 120 tỷ USD trong vòng 5 năm tới với tốc độ tăng trưởng trung bình 18%/năm.

Về hoàn thiện các chính sách nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, Việt Nam thường xuyên rà soát phát hiện tháo gỡ kịp thời những vướng mắc về cơ chế, thủ tục liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa. Đồng thời, Việt Nam còn chuyển hướng xuất khẩu theo cam kết WTO – gia nhập WTO tạo ra nhiều cơ hội mới cho nền kinh tế Việt Nam. Đối với xuất khẩu hàng hóa, thực hiện các cam kết WTO sẽ đặt các nhà sản xuất Việt Nam trước những đòi hỏi phải có những điều chỉnh, thích nghi nếu muốn tận dụng cơ hội một cách thành công nhất.