Kinh nghiệm đầu tư phát triển thuỷ lợi ở Việt Nam

Nước rất cần với cây trồng, nhưng khi mưa nhiều lại gây ra úng lụt, mưa ít thì gây ra hạn hán. Vì vậy, ngay từ thời xa xưa nhân dân ta đã phải đấu tranh với thiên nhiên tìm ra các biện pháp hữu hiệu để tưới tiêu nước, chống hạn hán, lũ lụt như tận dụng nước trời gieo trồng vào mùa mưa, tận dụng các đợt thuỷ triều cho nước ngọt chảy vào ruộng, đào sông ngòi mương máng để dẫn thoát nước, đắp đê kè ngăn lũ lụt, sáng tạo các biện pháp kỹ thuật và công cụ tưới tiêu nước.

Đến những năm 90 của thế kỷ 20, nước ta đã có một hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật về thuỷ lợi khá mạnh, có năng lực hạn chế được tác hại của hạn hán và úng lụt đối với sản xuất nông nghiệp và dân sinh.

Năng lực tưới tiêu cho lúa năm 1990: Tưới vụ đông xuân là 1.775.370 ha, vụ hè thu là 683.300 ha vụ mùa là 1.906.000 ha, tổng cộng là 4.544.970 ha. Tiêu nước vụ mùa là 900.000 ha, tưới cho rau màu, vây công nghiệp hàng năm khoảng gần 600.000 ha. Việc phòng chống lũ lụt đã được thực hiện có hiệu quả với nhiều biện pháp tổng hợp như làm nhiều hồ đập nhỏ, vừa và lớn ở vùng đồi núi giữ nước phục vụ thuỷ lợi, thuỷ điện, giảm cường độ các cơn lũ chặt chẽ và tu bổ thường xuyên trên 2.000 km đê sông và đê biển. Kết quả là trong 50 năm từ năm 1946 đến 1971, đê ở ven sông chính chỉ vỡ 2 lần (năm 1955 và năm 1971), mặc dù nhiều cơn lũ lớn xuất hiện (so với năm 1945 đầu thế kỷ XX có đến 18 lần vỡ đê).

Từ những thành tựu của công tác thủy lợi có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm trong vấn đề phát triển như sau:

Qua các thế hệ người dân Việt Nam luôn nhận thức đúng đắn vai trò quan trọng của công tác thuỷ lợi trong chiến lược phát triển sản xuất, dân sinh.

Từ các triều đại phong kiến, cho tới Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay luôn coi trọng và quan tâm tới phát triển công tác thuỷ lợi. Nhà nước luôn coi công tác thuỷ lợi là vấn đề quốc sách hàng đầu để giữ vững tình hình kinh tế – xã hội, luôn dành một khoản ngân sách lớn đề phát triển công tác này. Đồng thời huy động nguồn vốn và sức lao động từ dân với phương châm “ Nhà nước và nhân dân cùng làm”.

Để công tác thuỷ lợi hoạt động tốt hơn, và các công trình thuỷ lợi được quản lý điều hành đầy đủ ta đã thành lập hệ thống các công ty thuỷ nông hoặc xí nghiệp thuỷ nông quản lý các công trình vừa và lớn, cùng các công trình thuỷ lợi nhỏ (thuỷ nông nội đồng) giao cho các Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp hoặc nhóm hộ sử dụng nước quản lý.

Trong thời kỳ 1958 – 1960 do việc thực hiện phương châm 3 chính ( giữ nước là chính, thuỷ lợi nhỏ là chính, dân làm là chính) nên đã có một số chủ trương và biện pháp sai lầm, như việc ngừng thi công các công trình trạm bơm lớn ở các tỉnh Bắc Ninh, Hà Đông, Sơn Tây… Đình việc xây dựng đường dây cao thế, huỷ bỏ hợp đồng đặt mua máy bơm lớn của nước ngoài, ngừng việc nghiên cứu các dự án lớn và vừa. Đồng thời giải thể các tổ thuỷ nông, kết quả là nhiều công trình bị hư hỏng, có nhiều nơi nghiêm trọng, hiệu ích của công trình giảm.

Như vậy phát triển thuỷ lợi nói chung phải nâng dần từng bước, xoáy trôn ốc, nâng cao không ngừng, giải quyết dần từng vùng, từng mặt gắn với yêu cầu phát triển của sản xuất, đời sống, gắn với khả năng của đất nước về tài chính, về trình độ khoa học kỹ thuật và tiến bộ kỹ thuật, trình độ dân trí. Đi đôi với phát triển thực tế thì việc lập quy hoạch, xây dựng chiến lược, kế hoạch dài hạn cũng cần phải không ngừng bổ sung, điều chỉnh và nâng cao.

Nhà nước và nhân dân cùng làm, cùng quản lý, có phân công phân cấp. Có chính sách đối với nông dân nhưng cũng phải khơi dậy sự quan tâm của nông dân đối với công trình (chính sách thuỷ lợi phí, chính sách đầu tư).

Nhà nước phải đầu tư tập trung. Đầu tư cho các vùng trọng điểm nhưng cần tạo điều kiện cho vùng nhỏ, vùng sâu vùng xa ngay trong từng kỳ kế hoạch, bảo đảm phát triển nhanh của nền kinh tế, nhưng không được để các vùng khác biệt quá xa gây mất ổn định xã hội.

Xây dựng nhưng quản lý tốt là cực kỳ quan trọng nên vấn đề tổ chức quản lý cần phải được thực sự quan tâm.

Cần thực hiện quản lý tổng hợp lưu vực, quản lý tổng hợp nguồn nước (kể cả nguồn nước quốc tế) một cách thống nhất và chặt chẽ

Qua bài học trên và thực tế quá trình phát triển có thể khẳng định rằng để công tác thuỷ lợi phát triển không chỉ quan tâm tạo vốn và lao động đã là đủ mà còn phải kết hợp các biện pháp kỹ thuật cho phù hợp, vừa và nhỏ, luôn phải quan tâm có các dự án phát triển và cải tiến khoa học kỹ thuật.

Cũng như các quốc gia khác trong khu vực, vấn đề thu thuỷ lợi phí là vấn đề hết sức phức tạp và khó khăn, để phát triển tốt công tác thuỷ lợi hàng năm chính phủ vẫn phải dành một khoản ngân sách để bù lỗ cho các công ty hoặc các xí nghiệp thuỷ nông để nó tồn tại và phát triển hoạt động phục vụ tưới tiêu cho sản xuất và dân sinh.

Quan trọng nhất để phát triển công tác thuỷ lợi, thì đòi hỏi phải có một chính sách đúng đắn và phù hợp đối với công tác này.