Kinh nghiệm phát triển công nghiệp hỗ trợ trên thế giới

Nhật Bản: là quốc gia có nền công nghiệp phát triển hàng đầu trên thế giới. Để có vị trí như hiện nay một phần là nhờ Chính phủ Nhật Bản đã đưa ra chiến lược phát triển công nghiệp đúng đắn, đặc biệt là phát triển CNHT đã đưa đất nước Nhật Bản trở thành quốc gia có trình độ công nghệ hiện đại nhất thế giới. Chính phủ Nhật Bản đã đưa ra chính sách tạo điều kiện thúc đẩy phát triển CNHT và có được những thành quả như hiện nay, như: Năm 1949 ban hành Luật về Hợp tác với các DNNVV nhằm bảo vệ quyền đàm phán của các DN nhỏ cũng như tạo điều kiện để họ tiếp cận với công nghệ mới và nguồn vốn vay; từ những năm 1950 đến 1970, chính phủ ban hành Luật phòng chống trì hoãn thanh toán chi phí thầu phụ và các vấn đề liên quan nhằm ngăn chặn tình trạng chiếm dụng vốn của các công ty lớn với các nhà thầu phụ; Luật xúc tiến DN cung ứng nhỏ và vừa, nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà cung ứng, do lúc này họ đã phát triển rất mạnh và trở thành lực lượng sản xuất quan trọng của công nghiệp Nhật Bản. Ở Nhật Bản cứ 1 DN lắp ráp thì có khoảng 120 xí nghiệp CNHT làm vệ tinh để sản xuất linh kiện, phụ kiện, bao bì [103].

Công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản phát triển từ những năm 1950, hoàn toàn do DNNVV đảm nhiệm (chiếm tới 99,7%), hiện nằm trong khoảng 200 khu công nghiệp chuyên về sản xuất linh kiện (khu CNHT). Qua ba thập niên phát triển, đầu những năm 1980, CNHT bắt đầu chuyển dần ra nước ngoài. Hiện nay, CNHT tại Nhật Bản chỉ tập trung vào các linh kiện có giá trị cao, đòi hỏi sự chính xác lớn với kích thước nhỏ, tiêu hao nguyên vật liệu ít. Ngoài ra là các linh kiện phục vụ lắp ráp trong nước cho các ngành công nghiệp đòi hỏi công nghệ cao. Tuy nhiên ngành CNHT cơ bản vẫn chiếm vị trí rất quan trọng, ví dụ ngành công nghiệp Sokeizai (Công nghiệp Sokeizai – Công nghiệp Đúc-Rèn Dập) vẫn thu hút trên 200.000 lao động, trên 6800 DN, doanh thu năm 2007 đạt 5,4 triệu yên.

Năm 1952: Luật xúc tiến hiện đại hóa DN sản xuất (có 32 tiểu ngành CNHT nhận được một số ưu đãi đặc biệt); Năm 1956: Luật về biện pháp tạm thời đẩy mạnh công nghiệp chế tạo máy móc (tập trung 20 tiểu ngành của công nghiệp cơ khí); Năm 1957: Luật về biện pháp tạm thời khuyến khích công nghiệp điện tử (linh kiện cho công nghiệp điện tử và máy móc cho ngành công nghiệp điện tử với 31 tiểu ngành ưu tiên) [103].

Thực hiện triệt để chính sách hỗ trợ tài chính cho DNNVV: Quỹ tài chính chính sách công Nhật Bản cho các cá thể kinh doanh, DNNVV vay lãi suất thấp ở mức 1-3%/năm (không cần tài sản đảm bảo, không cần người bảo lãnh). Chính phủ thực hiện thúc đẩy đầu tư, hỗ trợ kinh doanh cho các DNNVV bằng cách gánh hơn nửa các rủi ro đối với DNNVV. Hiệp hội bảo lãnh tín dụng bảo lãnh khoản vay của các DNNVV từ các ngân hàng thương mại để họ có thể dễ dàng vay được vốn hơn.

Hỗ trợ kinh doanh trong nhiều mặt như hỗ trợ phát triển nhân lực, hỗ trợ khai thác thị trường, quản lý sản xuất kinh doanh, hỗ trợ chuyên gia đánh giá về DNNVV, tư vấn DN sản xuất kinh doanh, cắt giảm chi phí…

Thông qua việc tất cả các công ty đều thuộc về một nghiệp đoàn trong từng ngành để chính phủ nắm được hoàn toàn tình trạng ngành công nghiệp hoặc nhu cầu chính sách, từ đó đưa ra các chính sách ngành đồng thời có thể truyền đạt một cách chính xác các thông tin chính sách đến nghiệp đoàn, nâng cao hiệu quả chính sách và sự thích ứng chính sách.

Thúc đẩy đổi mới kỹ thuật bằng việc hỗ trợ nghiên cứu phát triển. Xây dựng các khu CNHT tập trung cho DN thuê với giá giảm 90% trong 5 năm đầu so với các khu công nghiệp thông thường và sử dụng miễn phí một số dịch vụ.

Phát triển các DN CNHT Nhật Bản: Các DN Nhật Bản có tinh thần tự ý thức, tự phấn đấu rất cao: quá trình hình thành CNHT của Nhật Bản hoàn toàn do hệ thống DN tư nhân phát triển. Chính phủ chỉ có những chính sách hỗ trợ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các DN  hoạt động và phát huy năng lực. Trong bối cảnh của Nhật Bản phát triển theo chiến lược 100% thay thế nhập khẩu, không sử dụng đầu tư nước ngoài mà chỉ mua công nghệ nước ngoài. Bản thân các DN lớn và các DNNVV của Nhật Bản đều có sự nỗ lực và năng lực làm việc rất cao. Những công nghệ mua về, họ có thể đồng hóa, biến thành của họ với chất lượng mới hơn. Đây chính là sự khác biệt để tạo ra sự thành công của các DN Nhật Bản. Ngày nay có thể nói bất kỳ sản phẩm công nghiệp nào của Nhật Bản cũng là những sản phẩm đạt tiêu chuẩn toàn cầu do những DN ưu tú nhất trên thế giới tạo ra. Tinh thần liên kết của các DN Nhật Bản trong chuỗi cung ứng rất cao, ví dụ như sự phục hồi một cách rất nhanh chóng sau thảm họa động đất sóng thần 11/2011 của các DN Nhật Bản là kết quả của tinh thần đoàn kết, liên kết trong các DN Nhật Bản.

Hàn Quc: Năm 1975, Luật Xúc tiến thầu phụ được ban hành, đã chỉ định một số ngành công nghiệp cũng như SP trong các ngành này là các linh phụ kiện. Luật yêu cầu các DN lớn phải mua ngoài, chứ không được tự sản xuất các sản phẩm này. Số lượng các sản phẩm này tăng từ 41 loại (năm 1979) lên 1553 (năm 1984) và giảm xuống 1053 vào năm 1999. Năm 2005, Chính phủ triển khai Chiến lược phát triển nguyên liệu và linh phụ kiện, nhằm phát triển CNHT trong công nghiệp ô tô và CNĐT, trong đó chỉ định rõ Samsung và Lucky Gold Star là các DN hạt nhân, với một số nhà sản xuất chuyên cung ứng linh phụ kiện phải phát triển các sản phẩm này để thay thế nhập khẩu. Chương trình này bắt buộc các DN hạt nhân phải cam kết mua linh kiện của các DN cung ứng này. Chiến lược được đánh giá thành công, vì các ngành CNHT ở Hàn Quốc đã phát triển rất nhanh. Sự phát triển của một số ngành công nghiệp mũi nhọn đã tạo cơ sở để phát triển mạnh CNHT của Hàn Quốc.

Để phát triển CNHT, năm 1960 Hàn Quốc đã ban hành Luật đặc biệt về phát triển vật liệu và linh kiện. Luật này được điều chỉnh cho phù hợp xu hướng chung của thời đại, gia hạn và đến nay vẫn còn hiệu lực. Bên cạnh đó, Hàn Quốc còn ban hành các đạo luật khác có liên quan nhằm bảo vệ sản xuất trong nước và nâng cao khả năng cạnh tranh.

Kinh nghiệm của Hàn Quốc cho thấy, phải có Luật đặc biệt về CNHT để huy động ngân sách cho phát triển CNHT, huy động được các cơ quan, đơn vị tham gia thực hiện thì mới thành công. Hàn Quốc lúc đầu cũng gặp khó khăn các bộ ngành bất đồng về trong việc phân bổ ngân sách cho ngành CNHT. Tuy nhiên, dựa vào Luật đặc biệt về CNHT sẽ giảm bất đồng trong việc phân bổ ngân sách cho ngành CNHT (theo Luật quy định).

Nhận thức của người dân và DN: tuyên truyền cho toàn dân nhận thức được tầm quan trọng của CNHT để người dân và DN ủng hộ tuyệt đối. Do yếu tố lịch sử, người dân và DN Hàn Quốc có nhận thức rất sâu sắc và có sự quyết tâm rất cao phải đuổi kịp và vượt Nhật Bản. Kết quả thực tế là Hàn Quốc đã thực hiện thành công từ nhận thức đến hành động về phát triển CNHT trong quá trình công nghiệp hóa của mình.

Chính phủ lấp biển lấp đất thành lập các khu CNHT tập trung cho DN thuê với giá rẻ. Chính phủ Hàn Quốc đã chi 300 tỷ won trong 4 năm 1987-1991 để phát triển các khu CNHT tập trung, chi cho nghiên cứu phát triển phụ tùng, vật liệu, giảm thuế cho các hoạt động kinh doanh liên quan đến khu CNHT…

Malaysia: Chính phủ Malaysia thực hiện chương trình phát triển Vendor. Chương trình phát triển Vendor tập trung vào phát triển CNHT bằng cách hỗ trợ các công ty trong nước hợp tác với tập đoàn và các công ty nước ngoài, nhưng không thành công do sự phân biệt loại hình DN và sự phụ thuộc quá lớn vào các công ty lớn. Chương trình được bắt đầu vào giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX để thúc đẩy các công ty có vốn đầu tư của người Malaysia hợp tác với các công ty nước ngoài. Trong chương trình này, công ty lớn FDI liên kết với một ngân hàng thương mại và các công ty cung cấp linh kiện nội địa. Tuy nhiên, kết quả là, các công ty có vốn của người Hoa không được sự hỗ trợ của dự án này, lại phát triển hệ thống khách hàng một cách mạnh mẽ và liên kết hợp tác rất tốt với công ty FDI, hơn là hệ thống DN Malaysia được Chính phủ hỗ trợ. Để cải thiện, chương trình liên kết phát triển công nghiệp dựa trên nhóm đã được triển khai, trong đó cả nhà cung cấp bậc 2 và không quy định thành phần DN tham gia. Các công ty đóng vai trò dẫn dắt cũng được hưởng ưu đãi như giảm thuế, hỗ trợ hoạt động nghiên cứu [98].

Những năm 1970, trọng tâm chính sách chuyển từ thay thế nhập khẩu, sang định hướng xuất khẩu dựa vào các FDI chế tạo, các nhà sản xuất lắp ráp và chế biến cho xuất khẩu. Malaysia đã ban hành Luật Khuyến khích đầu tư (1968), Luật về Khu Thương mại tự do (1971), và hệ thống kho hàng chế tạo được cấp phép. Được hưởng những ưu đãi này, các khu công nghiệp đặc biệt dành cho CNHT ở Penang đã bắt đầu thu hút các DN sản xuất chất bán dẫn toàn cầu; thung lũng Klang ở ngoại ô Kuala Lumpur thu hút các DN điện-điện tử nước ngoài, trong số đó có rất nhiều DN Nhật Bản. Các chính sách này đã giúp cho Malaysia hình thành một nền công nghiệp điện tử rất mạnh, hiện cung cấp chủ yếu các linh kiện điện tử cao cấp cho toàn thế giới, chủ yếu tập trung ở hai địa điểm kể trên [98].

Mặc dù chỉ mới bắt đầu phát triển ngành điện tử từ năm 1970 với vài DN nhỏ và khoảng 600 nhân công nhưng ngành điện tử Malaysia đã phát triển rất mạnh mẽ trong gần 4 thập niên qua. Malaysia là nhà sản xuất lớn của các sản phẩm điện tử như dụng cụ bán dẫn (IC, transitor, diod, wafer…), sản phẩm điện tử tiêu dùng chất lượng cao (high – end), các sản phẩm viễn thông và CNTT. Các DN Malaysia tham gia hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu nhằm sản xuất ra những sản phẩm có giá trị gia tăng cao để nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới. Với sự trợ giúp của Chính phủ Nhật Bản và các nhà đầu tư nước ngoài, nhất là các nhà đầu tư Nhật Bản, từ cuối những năm 80, Chính phủ Malaysia đã có nhiều chính sách và biện pháp hiệu quả nhằm phát triển các ngành CNHT phục vụ cho việc phát triển nhanh sản xuất sản phẩm điện tử [98].

Cũng như Thái Lan và một số nước ASEAN khác, ngành điện tử Malaysia cũng phát triển chủ yếu dựa vào vốn đầu tư nước ngoài. Nếu Thái Lan tập trung phát triển ngành chế tạo linh kiện máy tính và trở thành nhà sản xuất lớn nhất thế giới thì Malaysia tập trung phát triển ngành công nghiệp chế tạo dụng cụ bán dẫn và là một trong số 5 nhà sản xuất và xuất khẩu dụng cụ bán dẫn lớn nhất thế giới. Được chính phủ khuyến khích và các cơ quan hữu quan trợ giúp rất hiệu quả nên hơn 1.000 DNNVV của Malaysia đã chiếm lĩnh hầu hết các ngành CNHT khác như ngành nhựa, đột dập, đúc chế tạo khuôn mẫu, dụng cụ đồ gá, xử lý bề mặt… tạo nên một nền CNHT hùng mạnh phục vụ đắc lực cho sự phát triển ngành điện tử Malaysia trở thành công nghiệp hàng đầu của Malaysia, chiếm gần một nửa kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

Chính sách phát triển DNNVV: Trong định hướng phát triển công nghiệp chế tạo, ngoài việc thu hút đầu tư vào lĩnh vực này, Malaysia còn có những nỗ lực lớn trong việc phát triển các chương trình dành cho DNNVV. Đặc biệt đáng lưu ý là Chương trình phát triển các DN cung ứng tạo ra một thị trường sản phẩm công nghiệp trong đó các DNNVV Malaysia có thể trở thành các nhà chế tạo và cung ứng đáng tin cậy đối với đầu vào công nghiệp, máy móc và thiết bị sử dụng bởi khu vực các DN công nghiệp lớn. Chương trình này có một ưu điểm là hướng tới tạo ra các mối liên kết mạnh mẽ hơn giữa các công ty vừa và nhỏ với các công ty lớn và các tổ chức tài chính. Nghiên cứu kỹ hơn các đối tượng tham gia các chương trình này có thể thấy về bản chất đây là các chương trình phát triển các mạng sản xuất nội địa với một công ty lớn – công ty mỏ neo là công ty đứng đầu các mạng sản xuất – gánh nhận trách nhiệm tổ chức mạng, đưa ra các yêu cầu, chuẩn mực và hỗ trợ sự phát triển các DNNVV địa phương thành những công ty cung ứng trong mạng sản xuất của mình.

Chính sách phát triển nguồn nhân lực: Malaysia đã thành lập quỹ phát triển nhân lực, hỗ trợ chi phí đào tạo cho công ty thực hiện đào tạo nhân viên trước khi vào làm và hỗ trợ gấp đôi chi phí cho công ty cho phép người lao động đi đào tạo tại một cơ sở đào tạo được nhà nước công nhận. Malaysia cũng đặc biệt khuyến khích sự phát triển trong lĩnh vực R&D vốn có đóng góp đáng kể đối với quá trình phát triển nguồn nhân lực trong dài hạn của đất nước. Theo đó, Malaysia thực hiện miễn thuế thu nhập 5 năm đầu hoặc giảm 100% thuế đầu tư trong 10 năm đầu.

 Thái Lan: Dù chưa phải là quốc gia có nền công nghiệp phát triển, nhưng Thái Lan cũng đã có nền CNHT khá phát triển. Tuy là nước đi sau so với Nhật Bản, Hàn Quốc nhưng Thái Lan cũng đã có chính sách cụ thể để khuyến khích phát triển ngành CNHT. Năm 1992, thành lập Cục Công nghiệp (BUILD) trực thuộc Cục Đầu tư với mục đích phát triển các mối liên kết công nghiệp, cụ thể Chương trình hỗ trợ liên kết công ty đa quốc gia mua linh kiện phụ liện của các công ty hỗ trợ trong nước. Chương trình kéo dài 5 năm (1992-1997) trải qua 4 giai đoạn: (1) Phát triển cơ sở dữ liệu để hỗ trợ liên kết, tập trung vào công nghiệp đầu tư, ô tô, đào tạo nhà cung cấp; (2) Hỗ trợ kỹ thuật, hội thảo, kết nối DN; (3) Phát triển cơ sở dữ liệu, đào tạo, tham gia hội chợ quốc tế; (4) Hội chợ quốc tế. Tuy nhiên, chương trình không thành công, do không được DN biết đến và do các hoạt động hỗ trợ mới chỉ nằm ở bề nổi mà chưa đi vào hỗ trợ liên kết cụ thể. Thái Lan cũng tạo sự liên kết giữa các công ty hỗ trợ thuộc khối ASEAN với quốc tế thông qua cơ sở dữ liệu các ngành CNHT của khối này [112].

Giai đoạn 1986-1991, quốc gia này đã chọn 3 lĩnh vực ưu tiên để đa dạng hóa sản phẩm, một trong ba lĩnh vực đó là các ngành công nghiệp kỹ thuật như gia công kim loại và chế tạo linh kiện và phụ tùng, những ngành này sẽ hỗ trợ cho các sản phẩm viễn thông và điện tử xuất khẩu. Chính sách này đã thành công rất lớn trong việc thu hút các nhà chế tạo FDI. Hiện nay, Thái Lan có nền công nghiệp ôtô đứng thứ 4 trên thế giới, với 11 nhà lắp ráp và khoảng 3000 DN cung ứng cho ngành ôtô, chủ yếu là trong lĩnh vực cơ khí và điện điện tử. Thái Lan cũng rất chú trọng đến việc phát triển các khu CNHT tập trung, trong đó khu công nghiệp AMATA Nakorn là vùng tập trung CNHT lớn nhất và là bộ phận then chốt của sản xuất ô tô ở Thái Lan [112].

Chính sách của Chính phủ theo các hướng như loại bỏ chính sách hạn chế sở hữu nước ngoài và tạo ra các động cơ khuyến khích đầu tư mạnh mẽ đã trở thành những lực đẩy cần thiết thúc đẩy sự phát triển ngành ôtô Thái Lan vốn được xem là điển hình thành công về phát triển CNHT không chỉ đối với Thái Lan mà còn đối với nhiều nước đang phát triển trên thế giới. Trong chiến lược phát triển CNHT của Thái Lan, các công ty FDI, đặc biệt là trường hợp các DN FDI của Nhật Bản thể hiện một vai trò rất đáng kể. Tổng số các nhà sản xuất linh kiện ôtô ở Thái Lan có hơn 2.200 trong đó các công ty cung ứng ở vòng trong là 648 công ty và khoảng hai phần ba trong số đó là có sự tham gia của dòng vốn FDI. Dòng vốn này đã tạo ra những mối liên kết kỹ thuật rất tốt và nhờ đó phát triển công nghệ cho các công ty chế tạo linh kiện của Thái Lan. Bên cạnh đó các quyết định và hệ thống mua sắm của các công ty Nhật Bản, đặc biệt các công ty sản xuất ôtô đã khuyến khích đáng kể các công ty cung ứng địa phương.

Thái Lan đã biết tận dụng vốn đầu tư nước ngoài để xây dựng một nền công nghiệp điện tử phát triển, có các ngành CNHT có tính cạnh tranh cao, hội nhập thành công vào mạng lưới sản xuất và cung ứng toàn cầu của ngành điện tử thế giới và trở thành nhà sản xuất và xuất khẩu hàng đầu khu vực và thế giới về một số sản phẩm như HDD, IC và PCB. Ngành điện tử và các ngành CNHT phục vụ ngành điện tử Thái Lan đã chuyển đổi mạnh mẽ từ giai đoạn “Sản xuất để thay thế nhập khẩu” sang giai đoạn “định hướng xuất khẩu”. Các yếu tố cơ bản đã tạo nên sự thành công này là: Các DN Thái Lan tiếp thu và ứng dụng thành công nhiều công nghệ được các đối tác nước ngoài chuyển giao. Các DN Thái Lan không chủ trương cạnh tranh với các công ty đa quốc gia hay các đối tác nước ngoài khác mà chú trọng cung cấp các linh phụ kiện và các dịch vụ sản xuất cho họ nên được các công ty đa quốc gia và các đối tác nước ngoài ủng hộ và trợ giúp.

Tuy nhiên, các ngành CNHT của Thái Lan cũng gặp phải một số vấn đề trong quá trình xây dựng và phát triển. Trong một thời gian tương đối dài, Chính phủ chưa có một chính sách thuế phù hợp để khuyến khích việc phát triển các ngành CNHT trong nước. Ngành CNHT của Thái Lan vẫn còn thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao, các nhà quản lý sản xuất và quản lý công nghệ cấp trung gian để tiếp thu và ứng dụng các công nghệ được chuyển giao. Việc chuyển giao công nghệ đôi khi cũng bị hạn chế do trình độ ngoại ngữ của nhân viên bản địa. Mặt khác, do hàm lượng nhập khẩu cao nên các ngành CNHT Thái Lan chỉ tạo ra được một phần giá trị gia tăng không lớn cho nền kinh tế quốc dân. Các ngành CNHT phục vụ phát triển CNHT Thái Lan đang phải đối mặt với 2 vấn đề cơ bản là: Giá nguyên liệu thô trên thị trường thế giới ngày càng tăng sẽ làm giảm tính cạnh tranh của các ngành CNHT; Vòng đời của các sản phẩm CNHT ngày càng ngắn sẽ làm giảm lợi nhuận từ các sản phẩm cũ mỗi khi một sản phẩm mới xuất hiện.

Chính sách phát triển DN nội địa: Thái Lan đặc biệt coi trọng các công ty FDI, đặc biệt nguồn vốn chế tạo từ Nhật Bản. Tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài, kết hợp với các chính sách yêu cầu xuất xứ địa phương trong sản phẩm đã trở thành kênh chính kết nối các DN CNHT địa phương vào các mạng sản xuất toàn cầu và tạo sức ép cho các DN địa phương tiến lên đáp ứng được các yêu cầu tổ chức và kỹ thuật của các mạng sản xuất toàn cầu. Tuy vậy, không phải tất cả đều suôn sẻ. Các nhà nghiên cứu Nhật Bản cho rằng Thái Lan cần tăng sức cạnh tranh quốc tế cho ngành chế tạo máy và cần “nội sinh” hóa công nghệ cơ bản như một nguồn tăng trưởng và phát triển nền tảng CNHT rộng hơn. Đặc biệt cần tạo dựng mối liên kết giữa các nhà chế tạo trong nước với nước ngoài, tránh sự phụ thuộc vào nước ngoài.