Kinh nghiệm phát triển công nghiệp phụ trợ của các nước.

Qua quan sát chung cho thấy, các nước đến sau đã thực thi rất nhiều biện pháp nhằm tăng cường cơ sở hạ tầng công nghiệp. Trong nửa thế kỉ XX, các biện pháp phi thuế và chính sách bảo hộ như các qui định về nội địa hóa được tận dụng một cách triệt để nhằm bảo vệ nền kinh tế non trẻ. Khi các qui định này được dỡ bỏ do áp lực từ hội nhập quốc tế, đầu tư nước ngoài được sử dụng như là lực lượng dẫn dắt nền kinh tế. Ngoài ra, liên kết SME với doanh nghiệp lớn, giữa doanh nghiệp trong nước với MNC, cũng như sự tham gia vào các mạng lưới sản xuất toàn cầu được coi là những yếu tố quyết định cho sự phát triển công nghiệp ở các nước đến sau. Và sau đây là kinh nghiệm của một số nước trong khu vực châu Á.

1.      Nhật Bản

Nhật Bản xây dựng các chính sách công nghiệp nhằm kịp thời đáp ứng những biến đổi trong môi trường kinh doanh và cân bằng lợi ích giữa SME và các doanh nghiệp lớn. Ví dụ, trong những năm 1940, nhu cầu về các sản phẩm trong ngành công nghiệp cơ khí tăng mạnh khiến các doanh nghiệp lớn phải kiw hợp đồng với các doanh nghiệp nhỏ hơn (cung cấp linh phụ kiện) thay vì mở rộng cơ sở san xuất. Để điều chỉnh quan hệ này, Chính phủ NB khi đó đã ban hành Luật về Hợp tác với  SME năm 1949 nhằm bảo vệ quyền đàm phán của SME và tạo điều kiện cho họ tiếp cận với công nghệ mới và các nguồn vay. Trong những năm 1950, các nhà thầu phụ thường bị các công ty mẹ bóc lột như trữ hàng đệm, trì hoãn thanh toán. Chính phủ đã ccan thiệp bằng cách ban hành Luật Phòng chống trì hoãn thanh toán chi phí thầu phụ vào năm 1956 nhằm ngăn chặn tình trạng chậm thanh toán cho các nhà thầu phụ. Trong những năm 1960 và 1970, ngành chế tạo mở rộng nhanh chóng nhờ việc sản xuất hàng loạt dẫn đến cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp lớn. Các doanh nghiệp lớn vì thế rất cần các nhà thầu phụ có khả năng nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm chi phí để giúp họ tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm của mình. Chính phủ hỗ trợ xu thế này thông qua việc ban hành Luật xúc tiến Doanh nghiệp thầu vừa và nhỏ vào năm 1970 để tạo thuận lợi cho các hoạt động thầu phụ (Subrahmanya, 2006)

2.      Hàn Quốc

Để thúc đẩy liên kết giữa SME và các doanh nghiệp lớn, Hàn Quốc đã thực thi chính sách từ trên xuống, chỉ định một số doanh nghiệp lớn và yêu cầu họ phải mua linh phụ kiện từ các từ các SME mục tiêu. Ví dụ, Luật Xúc tiến thầu phụ SME được giới thiệu năm 1975 và điều chỉnh năm 1978 đã chỉ định một số ngành công nghiệp cũng như một số sản phẩm trong các ngganhf công nghiệp này là các sản phẩm thầu phụ. Luật yêu cầu các doanh nghiệp lớn phải mua các sản phẩm đã chỉ định này từ bên ngoài chứ không được sản xuất. Số lượng sản phẩm được chỉ định tăng mạnh từ 41 sản phẩm vào năm 1979 lên 1.553 vào năm 1984, và sau đó giảm dần xuống 1.053 vào năm 1999 (APO, 2002: 62). Năm 2005, Hàn Quốc triển khai chiến lược phát triển Nguyên liệu và Linh phụ kiện  phát triển các linh phụ kiện và các nguyên liệu chính sử dụng rong công nghiệp điện tử và ô tô. Chiến lược đã chỉ định các doanh nghiệp lớn như Samsung và Lucky Gold Star (LG) là những doanh nghiệp hạt nhân, một số nhà sản xuất khác là doanh nghiệp thành viên phải tiến hành nghiên cứu và phát triển linh phụ kiện, nguyên liệu mới thay thế nhập khẩu. Chiến lược yêu cầu các doanh nghiệp hạt nhân phải mua linh phụ kiện và nguyên liệu này từ các doanh nghiệp thành viên (Suzuki, 2006).

3.      Đài loan

Trái với Hàn Quốc, chính phủ Đài Loan không can thiệp sâu vào quyết định của cá công ty lớn và nhà thầu phụ, nhưng đóng vai trò chất xúc tác thông qua hỗ trợ tài chính. Hệ thống Hạt nhân – Vệ tinh được triển khai năm 1984, gồm mối liên kết: nhà cung cấp linh phụ kiện và nhà lắp ráp, người sử dụng hạ nguồn và nhà cung cấp nguyên liệu chính, nhà thầu phụ và thương gia (APO, 2002: 69). Chính phủ trợ giúp các liên kết này thông qua hỗ trợ kĩ thuật, tư vấn quản lý và hỗ trợ tài chính. Các doanh nghiệp hạt nhân tham gia hệ thống này vì được trợ cấp tài chính, còn các doanh nghiệp vệ tinh tham gia vì muốn nâng cao hiệu quả sản xuất. Hệ thống này góp phần chia sẻ thông tin và chính sách của mình.

4.      Malaysia

Để hỗ trợ giữa các nhà cung cấp trong nước với doanh nghiệp lớ, Malaysia triển khai chương trình Phát triển Người cung cấp (là những nhà cung cấp bậc 1 người Malaysia), tạo thị trường cho họ và hỗ trợ họ phát triển công nghệ kĩ năng quản lý. Chính phủ hỗ trợ chương trình thông qua vốn vay phi lãi suất nhưng chỉ dành cho những người cung cấp. Chương trình đã không thành công vì các doanh nghiệp Malaysia thiếu nhiệt tình và ohuj thuộc quá lớn vào các doanh nghiệp mỏ neo. Ngoài ra, các doanh nghiệp mỏ neo cũng gặp khó khăn trong việc tìm kiếm nhà cung cấp mới để phát triển, đặc biệt là nhà cung cấp Malaysia, vì họ đã có đủ nhà thầu phụ cho mình. Họ tham gia VDP chỉ bởi vì chính phủ yêu cầu và vì họ đã cam kết hợp tác với Chính phủ trong việc phát triển  SME (Karikomi, 1998).

Để cải thiện tình hình, Malaysia đã triển khai một chương trình mới gọi là Chương trình Liên kết công nghiệp (ILP), trong đó quy định cả nàh cung cấp bậc 2 và các công ty không do người Malaysia quản lý cũng có thể tham gia. Các công ty đóng vai trò dẫn dắt cũng sẽ được hưởng ưu đãi, như trợ cấp cho hoạt động nghiên cứu triển khai và giảm thuế.

5.      Thái lan

Trong thời gian dài thu hút vốn đầu tư nước ngoài và tiến hành công nghiệp hóa, Thái Lan đã tạo dựng được ngành công nghiệp hỗ trợ tương đối tốt. Tuy nhiên, năng lực và công nghệ trong nước vẫn còn thấp, phụ thuộc vào công nghệ và quản lý của nước ngoài vẫn còn cao dù đã trải qua 40 năm phát triển công nghiệp. Chính phủ đã không thực sự thành công trong việc nâng cao chất lượng công nghiệp phụ trợ (Ohno, 2006). Điều này có thể thấy được qua kết quả khiêm tốn của Ban Phát triển Liên kết công nghiệp của Ủy ban Đầu tư (BUILD) và Chương trình Phát triển nhà cung cấp Quốc gia (NSDP) được thực hiện trong những năm 1990 nhằm tạo ra kênh giao tiếp cho ngành công nghiệp chế tạo ở Thái Lan.