Kinh nghiệm về tái cơ cấu kinh tế của một số nước trên thế giới

1. Thái Lan

Thái Lan từ một nước Đông Nam Á đang trong quá trình chuyển đổi từ một nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp sang một nền kinh tế thu nhập trung bình cao với ngành chế tác và các ngành dịch vụ đa dạng. Thái Lan đã bắt đầu tái cơ cấu nền kinh tế của mình sau khủng hoảng tài chính năm 1997 và trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2007 – 2011 của Thái Lan nêu rõ tái cơ cấu kinh tế là cần thiết để đạt được cân bằng và bền vững phù hợp với nguyên tắc hài hòa, hợp lý và miễn nhiễm.

Các chiến lược về tái cơ cấu kinh tế của Thái Lan tập trung vào:

Thứ nhất, tái cơ cấu ngành kinh tế theo hướng: i) tái cơ cấu sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động và tăng thêm giá trị cho các hàng hóa và dịch vụ, trên cơ sở tri thức bản địa và văn hóa Thái Lan; ii) xây dựng các hệ thống miễn nhiễm và quản lý rủi ro cho các lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ, thị trường tài chính, tài nguyên thiên nhiên, cũng như hệ thống tài khóa; iii) phát triển nông nghiệp thành cơ sở lương thực an toàn và đầy đủ cho thế giới; iv) nâng cao chuỗi giá trị trong công nghiệp, thông qua hợp nhất các khu vực hợp nhất khác nhau như phát triển các cụm công nghiệp và ứng dụng các công nghệ giảm tiêu thụ năng lượng cũng như sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường.

Thứ hai, tái cơ cấu đầu tư theo hướng khuyến khích tiết kiệm trọng nước để tăng cường năng lực đầu tư của quốc gia và thực hiện an sinh xã hội, và giảm bớt mức độ phụ thuộc vào vốn nước ngoài, nhất là vốn vay và vốn cổ phần ngắn hạn. Tái cơ cấu quản lý thích đáng tài chính để tạo ra cân đối ngân sách trong tầm trung hạn và tạo điều kiện cho sản xuất trong nước bằng cách huy động vốn theo hướng hình thành các khu vực hiệu quả.

Thứ ba, tái cơ cấu hình thức phân phối theo hướng cạnh tranh và phân phối của cải bình đẳng và thúc đẩy phân phối công bằng các lợi ích kinh tế của toàn bộ tăng trưởng trong toàn xã hội.

Thứ tư, tái cơ cấu theo hướng nâng cao hiệu quả tiêu thụ năng lượng và phát triển các nguồn năng lượng thay thế nhằm giảm mức độ nhạy cảm về năng lượng và mức độ phụ thuộc vào nhập khẩu.

2. Liên bang Nga

Nga là một trong những nước chịu ảnh hưởng mạnh nhất từ suy thoái kinh tế toàn cầu. Kinh tế Nga, nền kinh tế tăng trưởng nhảy vọt theo giá hàng hoá trong thời kỳ kinh tế thuận lợi, đã đương đầu với tình trạng suy giảm và sau đó tăng trưởng âm khoảng 7,5% năm 2009. Còn nhiều yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến kinh tế Nga bao gồm tiêu dùng nội địa thấp, tăng trưởng kinh tế toàn cầu thấp, tín dụng thắt chặt, đầu tư cơ sở hạ tầng kém. Để đối phó với tình trạng này LB Nga đã thúc đẩy tái cơ cấu kinh tế theo các hướng sau:

Một là, tái cơ cấu ngành bao gồm: thúc đẩy đầu tư vào phát triển các ngành công nghiệp phi năng lượng như công nghiệp chế tạo, công nghiệp phần mềm, công nghiệp chế biến thực phẩm, gỗ; thúc đẩy phát triển nông nghiệp đặc biệt là sản xuất lúa mì lúa mạch để đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu trong điều kiện giá lương thực trê thế giới tăng nhanh.

Hai là, tái cơ cấu thương mại quốc tế và đầu tư theo hướng: i) Chuyển từ xuất khẩu nhiên liệu, sản phẩm thô và tài nguyên sang xuất khẩu các sản phẩm chế biến hoặc qua chế biến; ii) Thúc đẩy thu hút đầu tư trực tiếp nước thay vì huy động nguồn vốn vay thương mại hay đầu tư gián tiếp.

Ba là, tái cơ cấu sở hữu theo hướng thúc đẩy tư nhân hóa, bao gồm cả chuyển sang sở hữu tư nhân các tài sản của các DNNN và bất động sản.

Bốn là, tái cơ cấu đầu tư theo hướng tăng cường đầu tư cho R&D và tạo dựng một hệ thống có hiệu lực về chỉ thị của nhà nước cho các dòng sản phẩm quốc phòng, bảo đảm sự cân bằng trong chuyển giao các loại vũ khí, trang thiết bị hiện đại cho nhu cầu cần thiết của nội địa và trên thế giới.

Năm là, tái cơ cấu thị trường tài chính, hệ thống ngân hàng theo hướng giảm bớt mức độ đô la hóa, giảm sử dụng tiền mạch và tăng tính minh bạch của hệ thống ngân hàng.

Để thực hiện chiến lược toàn cầu,  tái cơ cấu kinh tế cần có lộ trình chiến lược cho cả Nga và các đối tác của LB Nga. Đó là định hướng lại cơ cấu kinh tế nhằm củng cố quan hệ hội nhập trong khuôn khổ các nước SNG và cùng nhau thâm nhập vào thị trường thứ ba, hỗ trợ xuất khẩu sản phẩm chế biến và nhập khẩu công nghệ cao.

3. Hàn Quốc:

Hàn Quốc đã trải qua cuộc khủng hoảng tài chính vào cuối năm 2007. Chương trình tài cơ cấu nền kinh tế đã giúp Hàn Quốc tiếp tục phát triển và phòng tránh tốt trước những tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay. Bằng những chính sách phản ứng kịp thời và mạnh mẽ nhất với những nguyên tắc, chiến lược tái cơ cấu trên 6 lĩnh vực được thực hiện: tài chính và doanh nghiệp, hệ thống giám sát tài chính, thủ tục phá sản, quản trị doanh nghiệp chính sách vĩ mô, mạng lưới an sinh xã hội và cấu trúc tài chính quốc tế Hàn Quốc đã đạt được những thay đổi tích cực về hiện đại hóa khuôn khổ pháp lý, thể chế thị trường tài chính thông lệ kinh doanh, năng lực của chính phủ trong đối phó với nguy cơ tiềm ẩn và suy thoái kinh tế. Kết quả từ những chính sách này đem lại khá khả quan. Chỉ hai năm sau khủng hoảng tài chính năm 2007, 346 công ty tài chính (16,5% tổng số công ty) đã bị đóng cửa hoặc phá sản, 18 tập đoàn trong tổng số 30 tập đoàn lớn phá sản hoặc phải thay đổi các cổ đông chính. Cơ cấu tài chính được cải thiện đáng kể, tỉ lệ nợ/vốn trung bình cải thiện từ hơn 400% xuống khoảng 120%, vốn cho vay của các Ngân hàng lên tới 21 tỉ USD. Chính phủ đã bơm ra 168,5 nghìn tỉ won (12% GDP) và 91,7 nghìn tỉ won đã thu hồi (tính đến năm 2008). Cơ quan giảm sát thống nhất được thành lập với nhiệm vụ kiểm soát ngoại hối và dự trữ bắt buộc. Trong bối cảnh thị trường suy giảm và vòng luẩn quẩn của tình trạng vỡ nợ ngày càng tăng, thì quá trình tái cơ cấu là thực sự cần thiết. Tuy nhiên, để tái cơ cấu đạt được hiệu quả thì quá trình này phải được theo đuổi với một khuôn khổ nhất quán. Vì thế, cần nhanh chóng hình thành cơ sở pháp lý để nâng cao tính khách quan của hoạt động tái cơ cấu. Hàn Quốc nhấn mạnh vào việc thường xuyên cải thiện tất cả các hệ thống của nền kinh tế đặc biệt là 6 lĩnh vực trên trong ngăn chặn và vượt qua khủng hoảng tài chính thường xuyên tái diễn.

4. Trung Quốc

Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới dù tác động tiêu cực đến nền kinh tế Trung Quốc, nhưng cũng có mặt tích cực là nó làm lộ ra những yếu kém tồn tại lâu nay về mô hình phát triển của nước này. Cuộc khủng hoảng đã chấm dứt chuỗi thời gian thành công của mô hình công nghiệp chế biến dựa vào xuất khẩu, lệ thuộc vào thị trường bên ngoài. Vấn đề tái cơ cấu kinh tế được đặt ra theo các hướng sau:

Thứ nhất, chuyển đổi kiểu tăng trưởng dựa vào việc tiếp tục đẩy nhanh cải cách định hướng thị trường nhằm duy trì tăng trưởng và thúc đẩy thị trường, phát huy những yếu tố tiềm năng cho tăng trưởng theo các hướng sau: i) Triệt để cơ cấu lại thị trường nhân tố sản xuất do sự lạc hậu của thị trường nhân tố sản xuất như vốn, đất đai; ii) Cải cách hệ thống quyền về tài sản chưa triệt để; iii) Cải cách hệ thống tài chính.

Thứ hai, tăng trưởng cần đi đôi với tạo việc làm bằng cách thay đổi mô hình tăng trưởng được cho là không còn phù hợp nữa. Mô hình tăng trưởng mới chú trọng hơn đến chất lượng và hiệu quả tăng trưởng và thực hiện sự phát triển xanh.

Thứ ba, tiếp tục cải cách theo hướng thị trường, bao gồm: i) Cải cách cơ cấu, giảm và xóa bỏ độc quyền, chú trọng chính sách vĩ mô trong trung hạn  thay vì quá tập trung vào chính sách ngắn hạn như hiện nay; ii) Cải cách lĩnh vực xã hội hướng tới người dễ bị tổn thương, tăng dịch vụ công nhằm tạo lòng tin đối với người dân, đồng thời có tác dụng kích cầu trong ngắn hạn. Vấn đề dài hạn là kết hợp cải cách kinh tế, cải cách xã hội và cải cách dịch vụ công; iii) Tiếp tục mở cửa kinh tế, tăng cường hợp tác để chống bảo hộ mậu dịch, tăng hợp tác trong lĩnh vực tài chính – tiền tệ với các nước khác; iv) Tăng cường điều chỉnh chính sách đối với các ngành được bảo hộ trước đây hay các ngành đang bị thu hẹp trong quá trình hội nhập.

Thứ tư, chiến lược phát triển của Trung Quốc sẽ hướng nội nhiều hơn so với trước đây, kích thích tiêu dùng nội địa nhiều hơn, đưa tiêu dùng nội địa thành động lực của tăng trưởng, đảm bảo phát triển trên cơ sở kết hợp hài hòa thị trường nội địa và xuất khẩu;  khuyến khích và củng cố các ngành then chốt bao gồm cả các ngành công nghiệp mũi nhọn.

**** Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam:

– Tái cơ cấu phải được thực hiện ở tất cảc các cấp độ của nền kinh tế bao gồm tái cơ cấu toàn bộ nền kinh tế, tái cơ cấu ngành, cơ cấu vùng và tái cơ cấu các doanh nghiệp.

– Tái cơ cấu đi phải đi cùng với nó là thay đổi mô hình tăng trưởng theo hướng thị trường, nâng cao hiệu quả, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế,  phát triển xanh và thân thiện với môi trường.

– Tái cơ cấu kinh tế theo hướng hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu thông qua việc tham gia ngày càng sâu rộng vào chuỗi giá trị toàn cầu của các ngành, cũng như các mạng lưới sản xuất khu vực và quốc tế.

– Tái cơ cấu kinh tế cần chú trọng cân đối giữa nguồn tiết kiệm trong nước và tiết kiệm nước ngoài để tránh phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn nước ngoài, cân đối giữa thị trường trong nước và thị trường nước ngoài.

– Tái cơ cấu nền kinh tế phải theo hướng nâng cao hiệu quả tiêu thụ năng lượng và phát triển các nguồn năng lượng thay thế nhằm giảm mức độ nhạy cảm về năng lượng và mức độ phụ thuộc vào nhập khẩu.

– Tái cơ cấu theo hướng phát triển dựa trên quan hệ hài hòa giữa thị trường trong nước và thị trường quốc tế. Nền kinh tế phát triển theo hướng “đứng vững trên hai chân” một mặt đẩy mạnh xuất khẩu, đầu tư nước ngoài, mặt khác tăng cường phục vụ thị trường nội địa và thúc đẩy đầu tư trong nội bộ nền kinh tế.

– Để tái cơ cấu đạt được hiệu quả thì quá trình này phải được theo đuổi với một khuôn khổ nhất quán và cần nhanh chóng hình thành cơ sở pháp lý để nâng cao tính khách quan của hoạt động tái cơ cấu. Cần việc thường xuyên cải thiện tất cả các hệ thống của nền kinh tế để đối phó với khủng hoảng tài chính thường xuyên tái diễn.

**** Một số khuyến nghị cho Việt Nam

Muốn nâng cao chất lượng tăng trưởng và đảm bảo tăng trưởng trong dài hạn tái cơ cấu nền kinh tế là hết sức cần thiết đối với Việt Nam. Xu hướng tái cơ cấu kinh tế cần tập trung vào các hướng sau:

Thứ nhất, Việt Nam cần chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực, phát triển xanh, thân thiện với môi trường và chuyển sang giai đoạn 2 của quá trình phát triển (xem Hình 1). Tăng trưởng cao nhưng đi đôi với nó phải nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Mô hình tăng trưởng cũ vẫn chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, công nghệ gia công và gia tăng vốn đầu tư vào các ngành thâm dụng vốn được nhà nước bảo hộ (xi măng, thép, ô tô…) đã làm cho chất lượng tăng trưởng và hiệu quả của nền kinh tế của nền kinh tế thấp.