Kinh tế Trung Quốc năm 2009

 

Bước vào đẩu năm 2009, kinh tế Trung Quồc vẫn gặp rất nhiều khó khăn. Quý I-2009, mức tăng trưởng rất thấp, chỉ đạt 6,1%, thấp nhất kể từ năm 2001. Trong 4 tháng kể từ tháng 11-2008 đến 2-2009 được coi là giai đoạn khó khăn nhất của kinh tế Trung Quốc kể từ khi bước vào thế kỷ mới do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, biểu hiện trước hết là là tốc độ sản xuất công nghiệp suy giảm nhanh chóng, giảm khoảng 10 điểm % so với tốc độ tăng trưởng bình quân từ tháng 2 đến tháng 10-2008. Hai là, kim ngạch xuất nhập khẩu giảm sút rõ rệt, đây được coi là lĩnh vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của khủng hoảng. Ba quý đầu  năm, xuất khẩu giảm 21,3% so với cùng kỳ năm trước. Nếu như so sánh với những năm trước đây, tỷ lệ tăng trưởng hằng năm đạt trên dưới 20% thì mức độ suy giảm của xuất khẩu Trung Quốc tới khoảng 40 %. Ba là, một bộ phận doanh nghiệp gặp khó khăn, lợi nhuận giảm sút, vấn đề việc làm trở nên nan giải. 2 tháng đầu năm 2009, tốc độ suy giảm lợi nhuận công nghiệp lên đến 37,3%. Bốn là, giá cả xuất hiện tăng trưởng âm. Tháng 2-2009, CPI giảm 1,6%. PPI (chỉ số sản xuất ngành công nghiệp) cũng giảm 1,1%; 3.3% và 4.5% từ tháng 12-2008 đến 2-2009. Năm là, thu  nhập tài chính giảm tương đối lớn, 2 tháng đầu năm đã giảm đến 11.4%.

♦  Sự ứng phó của Trung Quốc

Một loạt những chính sách kích thích kinh tế đã được đưa ra như kế hoạch đầu tư lên tới 4000 tỷ NDT hay quy hoạch điều chỉnh, chấn hưng 10 ngành nghề kinh tế lớn là ô tô, gang thép, dệt, chế tạo trang thiết bị, công nghiệp đóng tàu, điện tử viễn thông, công nghiệp nhẹ, hoá dầu, kim loại màu và ngành kho vận. Việc chấn hưng 10 ngành nghề này hết sức quan trọng vì ngoại trừ ngành kho vận, 9 ngành nghề còn lại có tỷ trọng chiếm đến gần 80% giá trị toàn bộ ngành công nghiệp, chiếm khoảng 1/3 tổng GDP của Trung Quốc. Tình trạng vận hành của 10 ngành nghề lớn này có quan hệ trực tiếp đến việc nền kinh tế Trung Quốc có thể thực hiện phát triển bình ổn, tương đối nhanh hay không. Quy hoạch điều chỉnh, chấn hưng lần này với phạm vi rộng hơn, mức độ hay hiệu quả chính sách đều lớn hơn từ trước đến nay.

Ngoài ra, nhà nước Trung Quốc đã đưa ra hàng loạt các biện pháp, chính sách nhằm ổn định nhu cầu bên ngoài, thúc đẩy xuất khẩu. Quốc vụ viện Trung  Quốc đã đưa ra 6 giải pháp. Đó là: (1). Hoàn thiện chính sách bảo hiểm tín dụng xuất khẩu; (2). Hoàn thiện chính sách thuế xuất khẩu; (3). Ra sức trợ giúp các doanh nghiệp xuất khẩu giải quyết các vấn đề khó khăn về tiền tệ; (4). Giảm gánh nặng cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu; (5). Hoàn thiện chính sách mậu dịch gia công; (6). Khuyến khích các doanh nghiệp “đi ra bên ngoài, lôi kéo xuât khẩu”. Năm 2009 sẽ bố trí 84 tỷ USD cho bảo hiểm tín dụng xuất khẩu ngắn hạn, dành cho 10 tỷ USD ưu đãi tín dụng xuất khẩu. Chỉ tính từ ngày 1-8-2008 đến 1-6-2009 Trung Quốc đã có đến 7 lần điều chỉnh tăng tỷ lệ hoản thuế giá trị gia tăng đối với hàng xuất khẩu. Ngoài ra, Ngân hàng Trung ương cũng duy trì tỷ giá hối đoái giữa đồng NDT và đồng đôla Mỹ ổn định kể từ tháng 7-2008 để ngăn chặn đà tăng của đồng NDT so với đồng USD, sau khi đồng tiến này đã tăng 21% trong  ba tháng trước nhằm hỗ trợ xuất khẩu. Về tiêu dùng, Trung Quốc đã có nhiều chính sách mới nhằm mở rộng tiêu dùng trong nước, ứng phó với khủng hoảng.

Song song với nỗ lực kích cầu để giúp cho guồng máy sản xuất tiếp tục hoạt động  thì Trung Quốc tiếp tục chi ra hàng chục tỷ USD để chen chân vào các tập đoàn Âu Mỹ nhằm tiếp cận với những công nghệ tiên tiến, hay làm chủ các nguồn tài nguyên để phục vụ cho nhu cầu sản xuất của Trung Quốc, đồng thời vượt qua các biện pháp bảo hộ của Âu Mỹ.

♦  Kết quả

Với những quyết sách như vậy và bằng việc áp dụng linh hoạt các chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước Trung Quốc, như chính sách tài chính tích cực và chính sách tiền tệ nới lỏng thích hợp, khiến nền kinh tế trước những áp lực lớn phải đối mặt cũng dần từng bước đi vào ổn định, trong vận hành kinh tế bắt đầu xuât hiện những biến đổi tích cực. Bước sáng  tháng 3-2009, dấu hiệu suy giảm kinh tế đã tạm lắng bởi đầu tư và lượng cho vay của các ngân hàng đều gia tăng. Tháng 4, thị trường nhà đất, xe hơi và cổ phiếu sôi động trở lại. Tháng 5, ngành công nghiệp cũng có những dấu hiệu khởi sắc, tốc độ tăng trưởng công nghiệp đạt 8.9% – mừc cao nhất kể từ tháng 10-2008. Đầu tư tăng nhanh kéo theo sự phát triển cho các ngành xây dựng, các nhà máy thép, xi măng…

Bảy tháng liên tục từ tháng 5 đến 11-2009, sản xuất công nghiệp đã liên tục tăng  trưởng. Cả năm sản xuất công nghiệp tăng trưởng 11,0%, giảm 1.9 % điểm  so với cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận của doanh nghiệp sau nhiều tháng suy giảm đã xuất hiện tăng trưởng trở lại vào tháng 7-2009, lợi nhuận của các doanh nghiệp công nghiệp có quy mô tăng 2.9% điểm so với cùng kỳ năm 2008. Sản xuất nông nghiệp tiếp tục tăng trưởng bình ổn, cả năm tổng sản lượng lương thực tăng 0.4% so với cùng kỳ năm trước. Tính toán sơ bộ, GDP cả năm đạt 33.535,3 tỷ NDT, tính theo giá cả có thể so sánh, tăng trưởng 8.7%, giảm 0.9 điểm % so với năm trước. Sau khi trải qua 9 tháng liền tăng trưởng âm, tới tháng 11-2009 , CPI đã chuyển sang tăng trưởng dương, mặc dù rất nhỏ chỉ tăng 0.6% so với cùng kỳ. Nhìn chung cả năm CPI giảm 0.7% so với năm trước. PPI sau khi liên tục tăng trưởng âm suốt 11 tháng, đến tháng 12 đã đổi chiều chuyển sang tăng trưởng dương, đạt 1.7%, cả năm giảm 5.4%. Thu nhập tài chính toàn quốc từng bước phục hồi và tăng trưởng mạnh, đạt mức 2 con số. Tính từ tháng 1-11, thu nhập cả nước đạt 6.339.31tỷ NDT, tăng trưởng 9.2% so với cùng kỳ.