Kinh tế Trung Quốc sẽ có cú sụp đổ kinh hoàng?

Thu Hương Theo Trí Thức Trẻ/CNBC 30/6/2014

Rất có thể những hệ quả mới chỉ bắt đầu. Nhiều chuyên gia nhận định rằng nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới có thể phải chịu những nỗi đau lớn hơn rất nhiều.

NHTW Trung Quốc đã khiến thị trường toàn cầu quay cuồng khi cố gắng thắt chặt tín dụng và hạn chế hệ thống ngân hàng trong bóng tối (shadow banking). Tuy nhiên, rất có thể những hệ quả mới chỉ bắt đầu. Nhiều chuyên gia nhận định rằng nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới có thể phải chịu những nỗi đau lớn hơn rất nhiều.

“Tín dụng đã được thắt chặt kể từ cuối năm ngoái”, Leland Miller – chủ tịch của China Beige Book International nhận định.

Theo Leland, lãi suất cho vay liên ngân hàng tăng lên chính là một chỉ số thể hiện sự căng thẳng của hệ thống. Cơ chế chu chuyển tín dụng đã vỡ vụn và cho đến khi điều này được sửa chữa, Trung Quốc sẽ không thể có được kết cục tốt đẹp.

Trong thông báo được gửi đi tuần trước, NHTW Trung Quốc khẳng định nền kinh tế và hệ thống tài chính đang vận hành trơn tru và không hề có hiện tượng thiếu thanh khoản trên thị trường. Tuy nhiên, nền kinh tế Trung Quốc vẫn phải chịu đựng những rắc rối từ tín dụng và tình trạng đầu tư quá mức trong bối cảnh nền kinh tế suy giảm.

Bill Smead – CEO kiêm CIO của Smead Capital Management – cho rằng trong giai đoạn 2008 – 2011, Trung Quốc đã bơm vào nền kinh tế khoảng 2.500 tỷ USD. Phần lớn số tiền này đổ vào các công cụ đầu tư để xây dựng cầu cống, sân bay và chung cư. Rất nhiều dự án được xây dựng chỉ với mục đích thể hiện tốc độ tăng trưởng kinh tế vượt trội mà không tạo ra nhiều hiệu quả về mặt kinh tế.

Trong khi đó, Gordon Chang – tác giả của cuốn sách “The Coming Collapse of China,” (tạm dịch: Cú sụp đổ sắp tới của Trung Quốc) cho rằng nước này chỉ có thể tăng trưởng 2 -3%. Thậm chí, nếu tất cả hoạt động xây dựng đổ vào các thành phố ma và “những con đường chẳng dẫn đến đâu”, nền kinh tế có thể không tăng trưởng.

Gordon Chang bổ sung nên nhìn vào sản lượng sử dụng điện để xem xét tốc độ tăng trưởng của kinh tế Trung Quốc thay vì các con số chính thức. Trả lời phỏng vấn CNBC hồi đầu tháng, ông nhận định Trung Quốc chỉ tăng trưởng 2,9% trong quý I thay vì 7,7% như báo cáo.

Và, rất nhiều khoản vay được sử dụng để tài trợ cho các thành phố ma và những tuyến đường sắt bỏ hoang. Các chủ nợ gần như không bao giờ có thể thu hồi những khoản nợ này. Thay vào đó, các ngân hàng tiếp tục đảo nợ.

Nếu các ngân hàng ngừng đảo nợ, hệ thống ngân hàng có thể xuất hiện một “lỗ hổng” về vốn. Trong trường hợp này, chính phủ buộc phải bỏ ra một số tiền khổng lồ để tái cấu trúc các ngân hàng.

Trung Quốc có thể làm hai điều để phòng chánh rủi ro: nâng cao tỷ lệ dự trữ bắt buộc và sử dụng nguồn dự trữ ngoại hối khổng lồ.

David Riedel – chuyên gia đến từ Riedel Research Group – cho rằng trong khi nhà đầu tư phải lo lắng về sức khỏe của hệ thống ngân hàng,  tỷ lệ dự trữ bắt buộc ở mức 20% mà chính phủ đưa ra và kho dự trữ ngoại hối 3.000 tỷ USD là “hai trụ đỡ quan trọng”.

Tuy nhiên, sử dụng dự trữ ngoại hối để tái cấu trúc các ngân hàng có thể gây nên nhiều hậu quả không mong muốn: phá hoại đồng nhân dân tệ và gây nên lạm phát, dẫn đến một cuộc khủng hoảng lớn.

Bi quan

Đối với một số nhà đầu tư quốc tế, sự bấp bênh của Trung Quốc cũng đồng nghĩa với việc tránh đầu tư vào cổ phiếu Trung Quốc. Rajiv Jain – giám đốc của quỹ Virtus Foreign Opportunities Fund – nói với các nhà đầu tư tham dự hội thảo của Morningstar rằng ông “rất lo lắng về những rủi ro đến từ hệ thống ngân hàng trong bóng tối của Trung Quốc”.

Nhận định về đầu tư trong quý I vừa qua, ông cho rằng tốc độ tăng trưởng tín dụng của Trung Quốc là không bền vững. Jain bổ sung thê rằng các rủi ro mang tính chất hệ thống. Nếu kinh tế Trung Quốc suy giảm, chắc chắn là giá hàng hóa sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực. Giá hàng hóa thấp dẫn đến thu nhập cũng như đầu tư vào các nước xuất khẩu sụt giảm. Các nước này bao gồm Indonesia, Malaysia, Brazil, Canada và Australia.

Ông khuyến nghị nên đầu tư vào các công ty có phần lớn hoạt động ở trong nước (ví dụ như các ngân hàng Ấn Độ) và đánh giá rất thấp các công ty liên quan đến thị trường hàng hóa (vốn phụ thuộc vào Trung Quốc).

Cơ hội của Trung Quốc?

Tuy nhiên, không phải ai cũng bi quan về Trung Quốc. “Chúng tôi vẫn tin rằng Trung Quốc có thể xoay xở được”, Todd Henry – chuyên gia đến từ T.Rowe Price nhận định. Mặc dù nhận định Trung Quốc đã sai lầm trong phân bổ nguồn vốn và hệ thống tài chính ẩn chứa rủi ro, Henry vẫn cho rằng không có rủi ro hệ thống.

T. Rowe cho rằng không nên đầu tư vào mảng tài chính của Trung Quốc. Các cổ phiếu chưa đủ rẻ để chấp nhận rủi ro. T. Rowe ưa chuộng cổ phiếu của các công ty tiêu dùng, Internet và công ty hoạt động trong lĩnh vực môi trường.

Richard Gao, chuyên gia tại Matthews Asia, cho rằng Trung Quốc sẽ không đối mặt với một cuộc khủng hoảng ngân hàng trên diện rộng. Tuy nhiên, nhà đầu tư vẫn nên có cách tiếp cận thận trọng và giảm danh mục đầu tư vào lĩnh vực tài chính, đặc biệt là các ngân hàng.

Michael Kurtz, trưởng bộ phận đầu tư cổ phiếu của Nomura, cũng cho rằng nỗ lực thắt chặt tín dụng “rất hữu ích trong việc giúp nền kinh tế Trung Quốc bền vững hơn  trong trung và dài hạn. Thậm chí, đây là điều tích cực cho các định chế tài chính của Trung Quốc.

Còn Bill Stone của công ty quản lý tài sản PNC Asset Management thì cho rằng có vẻ như Trung Quốc không sụp đổ và những biến động gần đây có thể tạo ra cơ hội trong tương lai.

2007 hay 1979?

Chuyên gia đến từ HSBC Garry Evans so sánh bối cảnh hiện nay của Trung Quốc với nước Mỹ hồi năm 1979, khi Chủ tịch Cục dự trữ liên bang Paul Volcker lên nhậm chức. Theo Evans, chính phủ Trung Quốc đang tập trung vào cải cách, thị trường sẽ chờ đợi liệu cải cách sẽ diễn ra như thế nào.

Trong khi đó, Henry cho rằng chuyển trọng tâm nền kinh tế từ đầu tư sang tiêu dùng nội địa sẽ là một quá trình  đòi hỏi nhiều sự khéo léo. Rủi ro nằm ở chỗ Trung Quốc có thể đi chệch hướng và mất kiểm soát. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn tỏ ra khá xuất sắc trong nhiệm vụ điều hành nền kinh tế.

Trong khi đó, Smead có cái nhìn ảm đạm hơn khi cho rằng Trung Quốc năm 2013 giống với nước Mỹ thời kỳ 2007 – 08, khi khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra. Trung Quốc là mối lo ngại lớn nhất của Smead và ông tránh đầu tư vào các công ty năng lượng, tài nguyên cũng như công nghiệp phụ thuộc vào Trung Quốc.

Smead dự báo Trung Quốc sẽ chịu đựng một cuộc suy thoái sâu kéo dài đến 4 năm.

 

Nếu kinh tế Trung Quốc sụp đổ…

 

THEO Jean-Joseph Boillot/INFONET 21 Mar 2014

Nền kinh tế Trung Quốc đã bộc lộ những dấu hiệu nguy hiểm. Tốc độ tăng trưởng giảm, tài chính có nguy cơ lâm vào khủng hoảng trầm trọng… Theo các chuyên gia, đã đến lúc phải tính toán cho kịch bản nền kinh tế này sụp đổ.

Tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc đang chậm lại. Nếu kinh tế nước này sụp đổ, hậu quả có thể sẽ rất tai hại trong ngắn hạn đối với các nền kinh tế thế giới phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc. Nhận định đó được tiến sĩ kinh tế học Jean-Joseph Boillot đưa ra trên tạp chí “Thế giới” trong lúc các nhà quan sát và chuyên gia quốc tế tỏ ra lo ngại trước tình trạng đi xuống của nền kinh tế thứ hai thế giới.

Rõ ràng tỷ trọng của Trung Quốc trong GDP toàn cầu đang gia tăng, nhưng việc tăng trưởng của nước này giảm liệu có kéo tăng trưởng của thế giới giảm theo và ảnh hưởng tới tất cả các nền kinh tế trên thế giới, cụ thể là ở châu Âu, hay không ?

Theo ông Jean-Joseph Boillot, nếu tăng trưởng của Trung Quốc chững lại nhiều có thể sẽ ảnh hưởng. Tuy nhiên, ông cho rằng mọi thứ còn phụ thuộc vào kịch bản sẽ diễn ra như thế nào: chững lại từ từ hay khủng hoảng tài chính dữ dội.

Trong trường hợp thứ hai, có thể xảy ra hiện tượng dây chuyền đối các thị trường tài chính của thế giới thông qua một cuộc khủng hoảng tài chính trên toàn châu Á và qua đó đến toàn bộ các thị trường khác. Có rất nhiều sản phẩm tài chính hiện phụ thuộc vào việc nền kinh tế Trung Quốc có lành mạnh hay không, kể cả ở châu Âu.

Nếu căn cứ vào kịch bản theo đó tăng trưởng của Trung Quốc tụt xuống còn 4% hay 5%/năm như người ta bắt đầu lo ngại, có thể sẽ có hai hậu quả.

Thứ nhất, về ngắn hạn, hậu quả thực sự sẽ rất tiêu cực đối với cân bằng thương mại của thế giới. Quả thực, có ít cái để thay thế cho hàng hóa xuất khẩu từ Trung Quốc và nước này sẽ tiếp tục xuất khẩu các sản phẩm đó. Các nhà sản xuất Trung Quốc lúc đó sẽ tìm cách xuất khẩu bằng mọi giá để duy trì nhịp độ sản xuất ở trong nước, đồng thời sẽ giảm mạnh nhập khẩu trang thiết bị và nguyên liệu vì cầu ở trong nước giảm.

Tình trạng mất cân bằng tổng thể đối với Trung Quốc, vốn đã nghiêm trọng, có nguy cơ nghiêm trọng hơn chứ không như người ta nghĩ. Tình hình đó sẽ đặt các nước đã bị thâm hụt vào tình thế rất khó khăn. Các nước phát triển sẽ không phải là những nước đầu tiên bị ảnh hưởng mà là các nước mới trỗi dậy như Brazil hay Ấn Độ. Đấy là chưa nói đến châu Phi, châu lục vốn xuất khẩu ồ ạt tài nguyên thiên nhiên sang Trung Quốc.

Thứ hai, cũng về ngắn hạn, nhưng là đối với các thị trường tài chính. Từ khi xuất hiện sức ép theo hướng đồng nhân dân tệ (NDT) giảm giá hay ít nhất là dừng việc tái định giá đồng tiền này bắt đầu từ vài năm nay, có nguy cơ cuộc chiến tiền tệ – vốn bắt đầu từ hơn một năm qua – sẽ quyết liệt hơn. Nếu đồng NDT mất giá, tất cả các đồng tiền khác là đối thủ của đồng NDT sẽ cạnh tranh với nhau và điều đó sẽ đẩy sức ép ngầm gia tăng, đặc biệt là ở châu Âu vốn là nơi không kiểm soát tỷ giá hối đoái theo yêu cầu cạnh tranh mà chỉ dựa trên cơ sở lạm phát. Tóm lại, tỷ giá hối đoái thực của đồng euro sẽ được nâng lên và điều đó hoàn toàn không có lợi cho việc tạo việc làm.

Hiện tượng thứ hai sẽ xuất hiện trên các thị trường tài chính thông qua các thị trường chứng khoán. Một phần lớn lợi nhuận của các công ty Phương Tây, dù của châu Âu hay Mỹ, trên thực tế có được là nhờ các thị trường mới nổi, cụ thể là ở Trung Quốc, thông qua chi phí sản xuất thấp và lượng sản phẩm bán được tăng mạnh trong những năm gần đây. Đó là xe hơi loại sang của Đức với thị trường nước ngoài hàng đầu hiện nay là Trung Quốc. Nếu lợi nhuận của các công ty này bị ảnh hưởng mạnh bởi tình trạng tăng trưởng kinh tế ở Trung Quốc chững lại. Điều đó sẽ tác động đến các thị trường chứng khoán. Các thị trường này lúc đó có thể mất từ 20% đến 25%, qua đó tác động đến nền kinh tế thực thông qua việc giảm đầu tư cộng với giảm tín dụng và lợi nhận ngân hàng.

Nếu tăng trưởng của Trung Quốc chững lại, điều này có thể sẽ có tác động nghiêm trọng trong ngắn hạn. Con số quan trọng dĩ nhiên là GDP của Trung Quốc, hiện cao thứ hai thế giới, và cả sức nặng của nước này trong thương mại thế giới. Về mặt cơ học, GDP của thế giới có thể sẽ mất khoảng 6-10%.

Nhận định về việc nước nào sẽ chịu tác động nhiều nhất của cú sốc đó, ông Jean-Joseph Boillot cho rằng đó là các nước và vùng lãnh thổ ở châu Á có mối quan hệ “khép kín” với Trung Quốc, như Nhật Bản, Hàn Quốc hay Đài Loan. Lượng hàng phụ kiện của các nước nói trên xuất sang Trung Quốc lúc đó sẽ giảm mạnh và các nền kinh tế này khó tránh khỏi chững lại rất nhiều do phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc. Nhóm nước thứ hai chịu tác động là các nước xuất khẩu nguyên liệu sang Trung Quốc.

Tuy nhiên, tăng trưởng của Trung Quốc giảm sẽ thúc đẩy nhanh hơn tiến trình rút khỏi Trung Quốc của các nhà đàu tư quốc tế. Trào lưu đó có thể sẽ có lợi cho các nước khác trên thế giới, cụ thể là ở châu Âu và các nước mới nổi từng bị Trung Quốc cạnh tranh quyết liệt trong 20 năm trở lại đây.

Trên thực tế, hiệu ứng trung hạn nói trên đang diễn ra. Từ 5-6 năm nay, người ta thấy hoạt động kinh tế đang dần dần chuyển từ Trung Quốc sang các nước khác: không những các nước mới nổi như Việt Nam hay Bangladesh, mà cả các nước châu Âu như Pháp. Vấn đề thực sự ở đây là trong khoảng một chục năm nữa, thế giới liệu có đi đến chỗ lặng lẽ chấm dứt sự thống trị của hàng “Made in China” không hay sẽ tạo ra sự hỗn loạn. Nền kinh tế thế giới không được gì nếu đột ngột kết thúc một hệ thống mà chính các nước Phương Tây đã góp phần khởi động vào giữa những năm 80.

Tại Trung Quốc, lượng tiền mặt hiện đang trong tình trạng bức bối với tỷ giá ngắn hạn lên tới gần 25%. Đó rõ ràng là dấu hiệu cho thấy Ngân hàng nhân dân Trung Quốc (PBOC) gặp rất nhiều khó khăn trong việc kiểm soát để không gây ra đổ vỡ tín dụng quy mô lớn. Tình trạng hoảng loạn trong lĩnh vực này có thể sẽ dẫn đến một cuộc khủng hoảng tài chính quy mô lớn, vì kể cả ở Trung Quốc, các thị trường tài chính về bản chất là mong manh.

Tuy nhiên, xem xét lượng tiền mặt mà Trung Quốc đổ vào ồ ạt, người ta có cảm giác Ngân hàng trung ương của nước này sẽ hành xử như Cục dự trữ liên bang Mỹ thời hậu Lehman Brothers hơn là Ngân hàng trung ương châu Âu.

Trong trường hợp đồng NDT bị mất giá, ông Jean-Joseph Boillot, người từng là cố vấn cho Bộ Tài chính Pháp về nhiều vùng mới nổi trong những năm 1990, khẳng định sẽ dẫn đến hậu quả. Trước hết, chắc chắn là đối với xuất khẩu, cạnh tranh sẽ không trung thực như người ta thường nói, nhưng quan trọng nhất là tác động đối với cầu ở trong nước của Trung Quốc.

Đồng NDT mất giá cũng sẽ tác động xấu đến tiêu thụ ở trong nước, đặc biệt là đối với hàng nhập khẩu vì sẽ đắt hơn nhiều. Như vậy, chắc chắn thế giới sẽ không được gì nếu khủng hoảng nổ ra có thể sẽ chặn đứng việc tái định giá đồng NDT. Trái lại, thế giới cần có một đồng NDT mạnh để kích thích thị trường trong nước và phục hồi sức cạnh tranh của châu Âu.