Ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

 

     1. Chào hàng (Điều 14, Điều 15, Điều 17 Công ước Viên 1980):

Là giai đoạn trong đó một bên có đề nghị về việc ký kết hợp đồng được gửi đích danh cho một hoặc một vài người. Được xác định được coi là một chào hàng nếu có đủ chính xác và nếu nó chỉ rõ ý chí của người chào hàng muốn tự ràng buộc mình trong trường hợp có sự chấp nhận chào hàng đó. Một đề nghị là đủ chính xác khi nó nêu rõ hàng hoá và ấn định số lượng và giá cả một cách trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc quy định thể thức xác định những yếu tố này. Một đề nghị gửi cho những người không xác định chỉ được coi là một lời chào hàng, trừ phi người đề nghị phát biểu rõ ràng điều trái lại (Điều 14 Công ước Viên 1980).

 a. Yếu tố xác định một lời đề nghị ký kết hợp đồng là một chào hàng

– một đề nghị đó có đầy đủ và chính xác các thông tin về hàng hoá, số lượng, giá cả…mà mình muốn chào.

– thiện chí của người chào hàng

     b. Chào hàng phát sinh hiệu lực:

Một chào hàng có hiệu lực khi nó tới nơi người được chào hàng (Điều 15 khoản 01 Công ước Viên 1980)

     c. Chào hàng không phát sinh hiệu lực:

Một chào hàng, dù là loại cố định, sẽ mất hiệu lực khi người chào hàng nhận được thông báo về việc từ chối chào hàng (Điều 15 khoản 02 Công ước Viên)

     d. Những điểm cơ bản trong nội dung chào hàng:

Là những điểm liên quan đến các điều kiện về: giá cả; thanh toán; phẩm chất và số lượng hàng hoá; địa điểm và thời gian giao hàng; phạm vi trách nhiệm của các bên hay giải quyết tranh chấp.

     2. Chấp nhận chào hàng (Điều 18 khoản 01, Điều 22, Điều 24, Điều 19, Điều 20 Công ước Viên 1980):

Là giai đoạn tiếp theo, khi người nhận được chào hàng có một lời tuyên bố hay một hành vi khác cấu thành chấp nhận chào hàng. Nếu người nhận được chào hàng nhưng im lặng hoặc không hành động thì không được coi là chấp nhận chào hàng (Điều 18 khoản 01 Công ước Viên 1980).

Người nhận được chào hàng sau khi đã chấp nhận cũng có thể suy xét lại và nếu thấy chào hàng không có lợi cho mình thì có thể huỷ chấp nhận mà mình đã gửi.

Tuy nhiên, việc chấp nhận chào hàng chỉ có thể được chấp nhận nếu thông báo về việc huỷ chấp nhận chào hàng tới người chào hàng trước hoặc cùng thời điểm chấp nhận có hiệu lực (Điều 22 Công ước Viên 1980). Thông báo này coi như là “tới nơi” khi thông báo này, hoặc bằng lời nói, hoặc được giao bằng bất cứ phương tiện nào cho chính người đã chào tại trụ sở thương mại của họ, tại địa chỉ bưu chính hoặc nơi thường trú nếu không có địa chỉ bưu chính.

   a. Dấu hiệu xác định một chào hàng được chấp nhận

Một lời tuyên bố hay một hành vi khác của người được chào hàng biểu lộ sự đồng ý với chào hàng cấu thành chấp nhận chào hàng thì khi đó chấp nhận chào hàng phát sinh hiệu lực.

     b. Chấp nhận chào hàng phát sinh hiệu lực

Chấp nhận chào hàng có hiệu lực từ khi người chào hàng nhận được sự chấp thuận của người được chào.

Chấp nhận chào hàng không phát sinh hiệu lực nếu sự chấp thuận ấy không được gửi tới người chào hàng trong thời hạn mà người này đã quy định trong chào hàng. Hoặc trong thời hạn đó không được quy định như vậy, thì trong một thời hạn hợp lý, xét theo tình tiết của sự giao dịch, trong đó xét đến tốc độ của phương tiện liên lạc do người chào hàng sử dụng. Một chào hàng bằng miệng phải được chấp nhận ngay trừ phi các tình tiết bắt buộc ngược lại

Nếu do hiệu lực của chào hàng hoặc do thực tiễn đã có giữa hai bên trong mối quan hệ tương hỗ hoặc tập quán thì người được chào hàng chứng tỏ sự chấp thuận của mình bằng cách thực hiện một hành vi nào đó (Ví dụ: hành vi gửi hàng hay trả tiền dù họ không thông báo cho người chào hàng) mình muốn tiến tới ký kết hợp đồng thì chấp nhận chào hàng có hiệu lực từ khi hành vi đó được thực hiện và trong thời hạn quy định.

     c. Chào ngược

Nếu bên được chào hàng có khuynh hướng chấp nhận nhưng trong thư trả lời có chứa những điểm bổ sung; bớt đi; thêm vào hay sửa đổi thì đó được coi là từ chối chào hàng và tạo thành một chào hàng mới gọi là chào hàng ngược.

Những điểm bổ sung, sửa đổi hay đề nghị đó nếu không làm biến đổi những điểm cơ bản trong nội dung của chào hàng thì được xem là chấp nhận chào hàng (Trừ trường hợp người có yêu cầu được sửa đổi gửi thông báo ngay lập tức thể hiện sự phản đối của mình tới người được chào hàng ).

     d. Thời hạn để chấp nhận chào hàng

Chấp nhận chào hàng chỉ có giá trị nếu nó được gửi đến cho người chào hàng trong thời hạn do người chào hàng quy định. Có thể bằng bất cứ phương tịên thông tin liên lạc nào và được tính từ lúc bức điện được giao để gửi đi hoặc vào ngày ghi trên bì thư (Nếu ngày đó không có thì tính từ ngày bưu điện đóng dấu trên bì thư).

Thời hạn để chấp nhận chào hàng do người chào hàng quy định, bắt đầu tính từ thời điểm người được chào hàng nhận được chào hàng (Các ngày lễ hoặc ngày nghỉ việc rơi vào khoảng thời gian được quy định không được tính cộng thêm vào thời hạn đó).

Nếu ngày cuối của thời hạn chấp nhận chào hàng rơi vào ngày nghỉ lễ hay ngày nghỉ thì thời hạn chập nhận chào hàng có thể sẽ được kéo dài tới ngày làm việc đầu tiên kế tiếp các ngày nghỉ đó (Điều 20 Công ước Viên 1980).

     3. Đàm phán trong thương mại quốc tế:

Các bên trong hợp đồng thương mại quốc tế nên chú trọng giai đoạn đàm phán hợp đồng. Một hợp đồng được đảm bảo tốt và có những điều khoản được soạn thảo rõ ràng và đơn giản sẽ dễ dàng thực hiện hơn một hợp đồng được ký kết vào phút cuối cùng và có những điều khoản được soạn thảo tối nghĩa mập mờ. Khả năng xảy ra tranh chấp chủ yếu phụ thuộc vào giai đoạn đàm phán.

Trên thực tế, các bên không nhất thiết phải luôn luôn chấp thuận tất cả các điều khoản trong hợp đồng; vì vậy họ phải có thoả hiệp. Thông thưòng, điều này dẫn đến việc hình thành những điều khoản phụ. Trong trường hợp này, các bên phải cam kết đàm phán hợp đồng một cách thiện chí.

Đối với các hợp đồng phức tạp hoặc trong trường hợp có nghi ngờ về phạm vi và hiệu lực của  một hoặc một số điều khoản, cac bên nên nhờ luật sư có năng lực chuyên môn. Nếu các bên không có luật sư riêng, phí thuê luật sư bên ngoài đôi khi rất tốn kém. Nhưng nếu không thuê luật sư, các bên có nguy cơ phải tham gia vào các vụ kiện ở giai đoạn sau, mà chi phí cho các vụ kiện sẽ tốn kém gấp nhiều lần so với phí thuế luật sư trước đó

* Khái niệm:

Đàm phán thương mại là quá trình trao đổi ý kiến giữa các chủ thể nhằm đi tới thống nhất cách nhận định; thống nhất quan niệm; thống nhất cách xử lý những vấn đề nảy sinh trong quan hệ buôn bán giữa các bên trong giao dịch.

* Những vấn đề thường trở thành nội dung của các cuộc đàm phán bao gồm:

Tên hàng; phẩm chất; số lượng; bao bì đóng gói; phạt bồi thường; giao hàng; giá cả; thanh toán; bảo hành; bảo hiểm; khiếu nại; trọng tài; trường hợp bất khả kháng…

* Cách tiếp cận để giải quyết trong đàm phán:

Tiếp cận hợp tác và tiếp cận cạnh tranh.

Trong đó tiếp cận hợp tác được ưa chuộng hơn, nhất là trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Các quốc gia đưa ra mục tiêu là thúc đẩy hợp tác kinh tế giữa các nước trên thế giới.

     Quá trình đàm phán thường gồm ba bước:

– Chuẩn bị đàm phán: đây là giai đoạn quan trọng nhất, nó quyết định thành công của cuộc đàm phán. Các bên cần chuẩn bị kỹ càng đầy đủ về thông tin; kế hoạch; chiến lược làm tiền đề cho giai đoạn tiếp theo

– Đàm phán: Trong quá trình đàm phán các bên cần luôn luôn vận dụng những nguyên tắc: lịch sự; thân thiện; chủ động; tập trung vào mục tiêu đã định; bình tĩnh xử lý các tình huống có thể xảy ra trong quá trình đàm phán. Nhằm đạt được những mục tiêu mà mình đề ra (Cần quan tâm đến thái độ của các thành viên trong quá trình đàm phán).

– Sau đàm phán: các bên tham gia đàm phán cần tỏ rõ thiện chí thực hiện và sẵn sàng xem xét lại những điều khoản đã thoả thuận trong quá trình đàm phán đàm phán

Ba hình thức đàm phán chủ yếu:

– Đàm phán qua thư

– Đàm phán qua điện thoại

– Đàm phán bằng cách gặp sỡ trực tiếp.

     4. Ký kết hợp đồng

Hợp đồng được coi là đã ký kết kể từ thời điểm chấp nhận chào hàng có hiệu lực (Điều 23 Công ước Viên 1980). Bắt đầu từ thời điểm này các bên phát sinh những quyền và nghĩa vụ được ghi trong trong hợp đồng

     5. Một số lưu ý

Hợp đồng có giá trị pháp lý khi các bên có thoả thuận về những điều khoản chủ yếu (Giá cả; số lượng; chất lượng; thời điểm giao hàng…). Tuy nhiên, để tránh những sai sót, thì các bên cần tham khảo các hợp đồng mẫu. Vì nếu có tranh chấp thì hợp đồng do các bên ký kết chính là cơ sở pháp lý đầu tiên để giải quyết tranh chấp.

Khi thoả thuận về giao hàng, thanh toán hay chuyển giao rủi ro đối với hàng hoá: bên bán và bên mua thường phải thoả thuận trong hợp đồng về việc dẫn chiếu hai văn bản là Incoterms 2000 và UCP 500. Cần có sự tìm hiểu kỹ và nắm rõ hai văn bản này.

a. Việc chuyển quyền sở hữu đối với hàng hoá

Việc chuyển quyền sở hữu đối với hàng hoá từ người bán sang người mua không đề cập trong Công ước, vì vậy các bên cần phải xác định thời điểm đó trong hợp đồng của mình nếu áp dụng Luật quốc gia. Đồng thời quy định nghĩa vụ của bên bán hàng hoá không vi phạm bản quyền cũng như quyền sở hữu của người thứ ba.

b. Điều khoản về hàng hoá

Điều khoản về hàng hoá: theo quy định của Công ước Viên 1980, người bán cần phải mô tả chính xác các đặc tính của hàng hoá với số lượng cụ thể trong hợp đồng.

Hàng hoá được coi là không phù hợp với hợp đồng nếu chúng không đúng với mô tả trong hợp đồng (Trừ phi chúng phù hợp với bất kỳ một mục đích cụ thể mà người mua biết đến hoặc ngầm định biết mà hàng hoá tương tự được sử dụng).

     c. Về giám định hàng hoá

Người mua có nghĩa vụ phải giám định hàng hoá.

– Nếu phát hiện hàng hoá không phù hợp với nội dung ghi trong hợp đồng, thì phải thông báo ngay cho người bán biết.

– Người mua mất quyền khiếu nại về tính không phù hợp của hàng hoá nếu không thông báo cho người bán trong một thời gian hợp lý sau khi người mua phát hiện ra hoặc lẽ ra phải phát hiện được sự không phù hợp này.


Các từ khóa trọng tâm hoặc các thuật ngữ liên quan đến bài viết trên:
  • các đề xuất công ước viên về hơp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
  • hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
  • trong mua bán quốc tế việc xác nhận bằng miệng có được xem là hợp đồng được ký kết không
  • vấn đề giao kết hợp đồng theo công ước viên 1980
  • ,