Lạm phát nước ta những năm 1990-1995

1 – Đổi Mới Cơ Chế, chính sách.

Những kết quả bước của quá trình đổi mới cơ chế, chính sách giá theo đường lối đại hội VI và đại hội VII của đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam được thể hiện trước hết và về cơ bản là cơ chế và chính sách giá đã chuyển biến theo hướng xoá bỏ cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp, thông qua hệ thống hai giá chuyển mạnh sang cơ chế một giá kinh doanh phù hợp với quan hệ cung cầu và thị trường, bắt đầu từ giá mua nông sản, thuỷ sản, giá bán lẻ hàng tiêu dùng và dịch vụ… Và đến nay hầu hết các loại vật tư chủ yếu ; mở rộng quyền tự chủ về giá, đi đôi với đổi mới cơ chế kế hoạch hoá, tự chủ về vốn tự chịu trách nhiệm về lời lỗ trong sản xuất kinh doanh.

Việc điều hành kinh tế vĩ mô của nhà nước đã có sự đồng bộ trên các mặt tài chính, tiền tệ và diều hoà thị trường giá cả, bội chi ngân sách và nhu cầu tín dụng vốn lưu động cho các tổ chức kinh tế được bù đắp chủ yếu bằng nguồn vay dân; ngân hàng đã có dự trữ đủ sức can thiệp hai thi trường vàng và đô la không để xảy ra đột biến giá, lạm phát đã được kìm chế và giảm thấp là kết quả nổi bật trong năm 1992.
Giá cả thị trường có xu hướng đi vào ổ định. Chỉ số giá bán lẻ hàng hoá dịch vụ trong những tháng đầu năm 1992 tăng 5-6% tháng. Từ tháng 3-1992 tốc độ tăng giá liên tục giảm, mức tăng giá bình quân hàng thàng từ 3, 5%trong quí I, xuống 0, 75% trong quí II và xuống còn 0, 2% trong quí III, mức tăng giá hàng tháng trong quí IV là 1, 05% tuy cao hơn quí II và III nhưng thấp hơn nhiều so với mức tăng giá trong quí IV các năm trước. Mức tăng giá cả năm là 17, 49% thấp hơn mức Quốc hội đề ra từ đầu năm (30-40%).

Sở dĩ đạt được sự ổn định như trên là do kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố, nhưng trước hết là chính sách quản lý chặt chẽ khối lượng tiền tệ tăng thêm, mở rộng việc phát hành các tín phiếu, kỳ phiếu để thu hút mạnh số tiền nhàn rỗi trong dân, cải tiến một bước công tác điều hoà lưu thông tiền tệ, xoá dần bao cấp qua ngân sách và tín dụng, chấn chỉnh công tác quản lý ngoại hối với sự can thiệp trực tiếp của ngân hàng và thị trường vàng và đo la, đồng thời trong lĩnh vực giá đã tiếp tục đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý, gắn liền với quá trình chống lạm phát, được thực thi trong cuộc sống bằng các giải pháp tình thế và cả các giải pháp cơ bản lâu dài.

Từ tháng ba năm 1989 lần đầu tiên sau nhiều năm lạm phát nghiêm trọng trong việc thực hiện các giải pháp chống lạm phát cao đã chú trọng đến khâu trọng tâm cần xử lý là chính sách tiền tệ, tín dụng. Do đó cũng là lần đầu tiên áp dụng chính sách lãi suất phù hợp với qui luật của cơ chế thị trường: đưa lãi suất huy động tiết kiệm lên cao hơn tốc độ trượt giá. Lãi suất huy động và cho vay các tổ chức kinh tế cũng được dịch gần với lãi suất huy động tiết kiệm và chỉ số trượt giá thi trường, rút ngắn kỳ hạn 3 năm (ngắn) và 5 năm (dài) về tiền gửi tiết kiệm xuống không kỳ hạn và kỳ hạn ba tháng. Giải pháp tình thế này đã có tác dụng quan trọng chặn đứng lạm phát cao. Mức lạm phát bình quân tháng từ 14, 2% năm1988 giảm xuống còn 2, 5% năm1989.

Mức lạm phát được kìm chế trong cả sáu tháng đầu năm 90, đã đẩy lùi nguy cơ khủng hoảng kinh tế- chính trị- xã hội, tạo điều kiện cải thiện quan hệ kinh tế với các tổ chức tài chíng thế giới và góp phần ổn định chính trị xã hội tạo được lòng tin trong nước và trên thế giới về tính đúng đắn về cuộc đôỉ mới ở nước ta.

Tuy nhiên trong việc áp dụng biện pháp tình thế nâng lãi suất tiết kiệm và điều hành chính sách lãi suất nói chung cũng đã làm nảy sinh những mâu thuẫn mới, ngoài tác dụng tích cực có gây một số tiêu cực cho nền kinh tế, đó cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến tái lạm phát cao( so với năm 1989 và đầu 1990) từ quí III/1990 cho đến đầu năm 1992( tốc độ trượt giá hàng hoá hàng tháng bình quân quí III/1990 là 4, 5%, quí IV/1990 là 7, 6% và bình quân tháng của năm 1991 là 4, 5%.

Lãi suất ngân hàng không được điều chỉnh kịp thời, tương ứng với tình hình lạm phát theo đúng tính chất tình thế của công cụ này, nên có lúc đã trở thành quá cao so với chỉ số trượt giá. Đã kích thích tăng tiền gửi quá mức, thu hẹp đầu tư cho sản xuất và lưu thông gây khó khăn cho kinh tế quốc doanh trong quá trình phục hồi và sắp xếp lại. Nhưng từ quí III/1990 lãi suất trở lên thấp xa so với tốc đọ trượt giá, sinh ra bao cấp trở lại cho kinh tế quốc doanh và phát sinh nhu cầu vốn giả tạo từ cơ sở.

Việc áp dụng biện pháp tình thế sử dụng chính sách lãi suất ngân hàng để chống lạm cao trong năm 1989 và kéo dài đến quí I/1990 đã làm cơ chế ngân hàng bị méo mó trái qui luật, lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất huy động tiền tiết kiệm. Tình trạng này tuy có được khắc phục dần trong năm 1991 nhưng đã làm cho ngân hàng càng cho vay càng lỗ, bù lỗ ngân sách cho ngân hàng và ngân hàng không chuyển sang kinh doanh được. Tình trạng bao cấp trong tín dụng trong kinh tế quốc doanh ( lãi suất tín dụng thấp hơn tốc độ trượt giá ) đã che giấu thực trạng lỗ của khu vực này, hình thành nhu cầu giả tạo về vốn. Việc sử dụng vốn vay kém hiệu quả nợ khó đòi có lúc đã lên đến 20% dư nợ tín dụng của ngân hàng nhà nước. Do vậy chủ trương “chống bao cấp qua giá đồng bộ với chống bao cấp qua vốn” đã không được kiên trì và thực thi có hiệu quả.

Việc áp dụng biện pháp tình thế nâng lãi suất tiết kiệm không đồng bộ với thi hành các biện pháp cơ bản chấn chỉnh kinh tế quốc doanh đổi mới chính sách tài chính tiền tệ thay đổi chính sách tiền lương, sắp xếp đi lao động, trước hết là biên chế khu vực hành chính sự nghiệp, các chính sách bảo hiểm chuyển ngân hàng sang kinh doanh thực sự, làm lành mạnh thị trường vốn… Cho nên những nguyên nhân tiềm tàng của lạm phát vẫn còn tồn tại.

Từ những bài học kinh nghiệm rút ra trong quá trình thực thi các giải pháp chống lạm phát mang tính tình thế của thời kỳ 1989-9991 mà năm 1992 trong việc điều hành nền kinh tế bằng các biện pháp vĩ mô của nhà nước đã có sự đồng bộ trên các mặt tài chính- tiền tệ vàđiều hoà thị trường giá cả, bội chi ngân sách và nhu cầu tín dụng vốn lưu động cho các tổ chức kinh tế được bù đắp chủ yếu bằng nguồn vay dân; ngân hàng đã có dự trữ đủ sức can thiệp hai thị trường vàng và đô la không để xảy ra đột biến và kết quả là lạm phát đã được kìm chế. Đó chính là tính hiện thực của các giải pháp chống lạm phát, đồng thời cũng là thành công trong điều hành vĩ mô nền kinh tế Việt Nan trong quá trình chuyển đổi kinh tế càng làm sáng tỏ luận điểm đúng đắn: chống lạm phát và chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước là hai quá trình dan xen xoắn xuýt với nhau, làm tiền đề và tạo điều kiện cho nhau để đạt tới những mục tiêu cơ bản: tăng trưởng kinh tế kìm chế và đẩy lùi lạm phát bảo đảm cán cân thanh toán thương mại và đảm bảo công bằng xã hội của quá trình dổi mới cơ chế kinh tế và cơ chế quản lý do Đảng ta khởi xướng từ đại hội VI (1986).

Tuy lạm phát đã được kìm chế và đang có xu hướng giảm, song tình hình thị trường và giá cả của năm qua cũng bộc lộ một số tồn tại đó là:
Do được mùa lương lúa hàng hoá tăng nhưng việc tiêu thụ chưa được giải quyết tích cực nên giá thóc ở hai vùng đồng bằng đều xuống thấp chưa thực sự khuyến khích nông dân sản xuất lương thực.
Hàng ngoại tràn vào nhiều qua nhập lậu đã gây khó khăn cho sản xuất trong nước nhiều mặt hàng phải giảm giá, chịu lỗ.

Việc điều hoà lưu thông tiền tệ chưa được cải tiến đáng kể, các doanh nghiệp thiếu vốn nhưng không vay ngân hàng do lãi suất ngân hàng vẫn còn cao.

Những kết quả đặt được của quá trình đổi mới cơ chế và chính sách giá và chống lạm phát trong những năm qua khẳng định: đường lối chủ trương đổi mới do Đảng ta khởi xướng từ đại hội VI đến nay là đúng đắn.

2 – Thực trạng năm 1994-1995.

Lạm phát đã được kiềm chế và giảm thấp là kết quả nổi bật của năm 1992 và 1993. Đến năm1994 và 1995 lạm phát lại gia tăng. So với hai năm gần đây tốc độ lạm phát 7 tháng đầu năm 1995 ở mức cao nhất (7 tháng đầu năm 1993 là 3, 9% và 7 tháng đầu năm1994 là 7, 2%). Lạm phát ở mức đáng lo ngại là các nguyên nhân chủ yếu sau:
Về cân đối ngân sách nhà nước.

– Tuy kế hoạch thu chi ngân sách nhà nước được giao cho các Bộ, cho các dịa phương từ cuối tháng 12 năm 1994, nhưng đến nay kế hoạch thu đạt ở mức thấp. Sở dĩ như vậy là do một số nguồn thu không có cơ sở vững chắc, thất thu thuế nghiêm trọng ở một số lĩnh vực, cơ chế thiếu đồng bộ, nhất quán. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh phát triển mạnh chiếm 24% GDP nhưng chỉ nộp có 11% số thu về thuế và phí. Tình trạng tác động mạnh đến tiến độ chi ngân sách Nhà nước, đặc biệt là cho đầu tư phát triển. Thêm vào đó việc thanh toán các khoản nợ xây dựng cơ bản tập trung trong năm 1994chuyển sang lớn, một số nguồn chi phát sinh như nợ nước ngoài, chi thực hiện ngân sách xã hội… Trong khi nguồn bù đắp ngân sách bằng con đường tín dụng trong nước và quốc tế hết sức khó khăn, tạo áp lực cho việc gia tăng cung cấp tiền tệ trong nền kinh tế.

Về tổ chức điều hành nền kinh tế thông qua chính sách tiền tệ.
– Mặc dù ngân sách nhà nước có nhiều cố gắng trong việc quản lý điều hành nền kinh tế bằng chính sách tiền tệ, nhưng trong những năm gần đây nổi lên một số vắn đề.

Việc thực hiện, duy trì không nghiêm ngặt tỷ lệ dự trữ tiền mặt bắt buộc đối với các ngân hàng thương mại ; việc tăng vốn tín dụngvà chậm thu hồi vốn tín dụng đến hạn phải trả của các ngân hàng thương mại làm gia tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế.
Việc mở rộng và phát triển các nghiệp vụ trong kinh doanh của ngân hàng thương mại và chính sách sử dụng ngoại tệ trong nền kinh tế thời gian qua vừa qua làm tăng lượng tiền gửi vào ngân hàng, làm tăng hệ số tiền, do đó làm tăng tổng phương tiện thanh toán.
Mức nợ tín dụng của ngân hàng thường mại tăng quá nhanh; nhiều lĩnh vực đầu tư kém hiệu quả, dàn trải, tình trạng các công trình dở dang phổ biến làm trầm trọng thêm sự mất cân đối hàng – tiền trong nền kinh tế. Hơn nữa, lượng tiền mặt trong lưu hành không còn thu hút qua kênh ngân hàng, tạo áp lực khá đối với giá cả thị trường, đặc biệt khi có sự biến động về giá cả.

Có nhiều ý kiến khác nhau khi xem xét ngyên nhân của lạm phát của nước ta trong thời gian qua. Một số ý kiến cho rằng thâm hụt ngân sách nhà nước trong thời gian qua. Một số ý kiến cho rằng thâm hụt ngân sách nhà nước, quản lý điều hành thị trường trong thời gian qua không tốt gây ra tình trạng thiếu một số mặt hàng như gạo, xi măng, giấy… ; xuất khẩu hàng lậu tăng, mở rộng quá mức hạn tín dụng của các ngân hàng thương mại… làm cho lạm phát gia tăng. Do đó cần phải làm rõ mối quan hệ của các nhân tố trên với tình trạng lạm phát gia tăng trong thời gian qua.

– Thứ nhất, việc thâm hụt ngân sách thường xuyên và khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn bù đắp lượng thâm hụt này, tạo nên áp lực tăng cung tiền. Tuy nhiên nếu việc bù đắp lượng thâm hụt này bằng con đường tín dụng nhà nước như bán trái phiếu chính phủ thì không ảnh hưởng gì tới chỉ số giá cả hàng hoá và dịch vụ trên thị trường. Nhiều nước trên thế giới có thời kỳ thâm hụt ngân sách tăng nhưng tỷ lệ lạm phát vẫn được duy trì ở một mức nhất định. Do vậy thâm hụt ngân sách nhà nước không phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra lạm phát.

– Thứ hai, tình trạng biến động lớn về giá cả một số loại hàng hoá trong thời gian vừa qua do mất cân đối cung cầu về loại hàng hoá trên thị trường. Nếu như cung tiền tệ không đổi thì sự tăng giá đột biến với một số mặt hàng làm thay đổi cơ cấu tiêu dùng trong xã hội, thực hiện phân phối lại giữa các cá nhân và các tổ chức trong nền kinh tế. Do vậy sự sốt giá đối với một số loại hàng hoá không phải là nguyên nhân chủ yếu của lạm phát trong thời gian qua. Tuy nhiên trên thực tế sự tăng giá đột biến cũng tạo ra áp lực tăng cung tiền tệ, làm thay đổi lượng tiền mặt dự trữ trong dân thông qua ngân hàng tác động đến chỉ số giá cả.

– Thứ ba, xuất khẩu lậu qua một số loại hàng hoá, đặc biệt là gạo tạo nên mất cân đối cung cầu đẩy giá cả loai hàng hoá đó lên chừ không ảnh hưởng đến tình trạng lạm phát ở nước ta trong thời gian qua.

Thứ tư việc tăng quy mô tín dụng của các ngân hàng thương mại ảnh hưởng trực tiếp đến lam phát. Việc tăng vồn tín dụng cho ngân hàng thương mại làm tăng cơ số tiền; mở rộng quy mô tín dụng làm tăng hệ số tiền, làm cho tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế tăng. Các NHTM di vay để cho vay các nguồn lực tài chính tạm thời nhàn rỗi, thực hiện việc tích tụ tập trung vốn, tăng hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế cần được phát huy. Để kiềm chế lạm phát do hoạt động tín dụng ngày càng mở rộng của hệ thống NHTM là chức năng của ngân hàng Nhà nước, thông qua các nghiệp vụ của nó; tuyệt nhiên không nên khống chế hạn mức tín dụng tự huy động trong nền kinh tế để tái đầu tư.


Các từ khóa trọng tâm hoặc các thuật ngữ liên quan đến bài viết trên:
  • tinh hinh viet nam nam 1990-1994
  • tinh hinh vietnam 1990-1994
  • ,