Lạm phát Việt Nam những năm 1981-1988 như thế nào?

Lạm phát ở Việt Nam đã có từ lâu song ở đây chúng tôi muốn nói đến thời kỳ 1981-1988 trong thời kỳ 1976-1980, lạm phát ở Việt Nam “ ngầm”, nghĩa là tuy chỉ số giá cả do nhà nước ấn định tăng không nhiều, nhưng chỉ số giá cả ở thị trường tự do tăng khá cao, mức tăng giá cả đã vượt xa mức tăng giá trị tổng sản lượng, cũng như thu nhập quốc dân: trong thời gian 1976-1980, giá trị trị tổng sản lượng tính theo giá năm 1982 đã tăng 5. 8%, thu nhập quốc dân sản xuất đã tăng 1, 5%, nhưng mức giá trị đã tăng 2, 62 lần:

1 – Thực trạng:

Bước vào những năm 80, lạm phát đã bột phát “công khai”, và trở thành lạm phát phi mã với mức tăng giá 3 chữ số.
Chỉ số bán lẻ (năm trước =100)

Thi trường nhà nước kiểm soát là thị trường mà các giá cả do nhà nước qui định.
Lạm phát ở Việt Nam đã ở mức phi mã, năm cao nhất đã đạt tới chỉ số tăng giá 557% vượt qua mức lạm phát phi mã. Song những biểu hiện và tác hại của nó không kém gì siêu lạm phát.

Thứ nhất, qua bảng trên ta thấy từ năm 1981-1988 chỉ số tăng giá đều trên 100% một năm; những năm đầu 80 mức tăng này là trên 200%, đến năm 1983và 1984 đã giảm xuống, nhưng từ năm 1986 đã tăng vọt tới mức cao nhất 557%, sau đó có giảm; như vậy là mức lạm phát cao và không ổn định.
Thứ hai, tốc độ lưu thông tiền tệ tăng nhanh vì dân chúng không ai muốn giữ tiền, người ta bán song hàng phải mua ngay hàng khác, hoặc vàng hoặc đô la, không ai dám giữ tiền lâu trong tay, vì tốc độ mất giá của nó quá nhanh. Song ở Việt Nam vòng quay của đồng tiền qua ngân hàng nhà nước lại không tăng lên mà giảm đi, vì cơ chế hoạt động của ngân hàng quá kém không đáp ứng được nhu cầu gửi và rút tiền của các chủ kinh doanh và dân cư.

Thứ ba, tiền lương thực tế của dân cư bị giảm mạnh, ở Việt Nam trước năm 1988, hầu hết các giá cả do nhà nước qui định. Trong những năm 80 nhà nước đã nhiều lần tăng giá. Trước năm 1985, mức tăng giá do nhà nước qui định không lớn, tuy mức tăng giá ở thị trường tự do cao hơn nên nhà nước đã không bù giá vào lương, tiền lương thực tế đã giảm xuống. Từ năm 1986 nhà nước đã bù giá vào lương ngay sau khi tăng giá.
Nhưng tiền lương thực tế vẫn giảm mạnh vì nhà nước đã không khống chế được thị trường tự do. Giá nhà nước tăng một lần thì giá thị trường tự do tăng 1, 5 lần. Nhà nước lại không cung cấp đủ hàng cho dân cư theo giá nhà nước, nên mọi người phải mua hàng ngoài thị trường tự do với giá cao hơn, mặt khác những người được nhà nước bù giá chỉ là những người làm trong khu vực nhà nước còn số đông dân cư thì không được bù giá như vậy.

Thứ tư những người gửi tiền và có tiền cho vay đều bị tước đoạt, vì mức lãi suất so với lạm phát.

Thứ năm, các yếu tố của thị trường Việt Nam bị thổi phồng và bóp méo. Do giá cả nhà nước định đã không phải là giá cả thị trường, luôn thấp hơn giá cả thị trường tự do, và lại tăng theo từng chu kỳ, nên đã khuyến khích xu hướng đầu cơ và tích trữ hàng hoá kiếm lợi. Các xí nghiệp đã tìm mọi cách để dự trữ vật tư, không cần kinh doanh cũng có lợi. Dân chúng phải dự trữ nhu yếu phẩm. Tình trạng khan hiếm hàng hoá, khan hiếm vốn được phóng đại, các nhu cầu giả tạo tăng lên, bức trang thực của nền kinh tế bị xuyên tạc, lãi giả, lỗ thật.

Những biểu hiện trên đây của lạm phát Việt Nam tuy mới trong giai doạn phi mã, nhưng cũng đã gần như đầy đủ các nét chung của giai đoạn siêu lạm phát.

Một điều đáng chú ý là trước năm 1988, nhà nước đã áp dụng nhiều biện pháp, nghị quyết chống lạm phát, nhưng vẫn không kiềm chế và kiểm soát được lạm phát. Chỉ số giảm phát vẫn tăng giảm thất thường ngoài dự tính của nhà nước.

2 – Những đặc trưng chủ yếu của lạm phát thời kỳ này.

Lạm phát ở Việt Nam cũng có những biểu hiện chung giống các nước khác trên thế giới: như chỉ số giá cả nói chung tăng phổ biến, do vậy giá trị của đồng tiền giảm. Song lạm phát ở Việt Nam có những đặc điểm riêng do những điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội cụ thể của Việt Nam qui định.
Lạm phát của một nền kinh tế kém phát triển trong đó khu vực kinh tế nhf nước giữ địa vị thống trị.

Nền kinh tế Việt Nam kém phát triển vào bậc nhất trên thế giới tình trạng kém phát triển này thể hiện ở một chỉ tiêu tính bình quân đầu người sau đây.
Tuy khu vực nhà nước chiếm phần lớn số vốn có định và chất sám trong nước, nhưng lại chỉ có thể làm ra từ 30 đến 37% tổng sản phảm xã hội trong suốt những năm 80. Một điều đặc biệt quan trọng đáng chú ý là các xí nghiệp quốc doanh nhìn chung đã nộp ngân sách nhà nước một số tiền thấp rất xa so với số tiền mà ngân sách nhà nước đã phải bao cấp cho nó qua các kênh bù lỗ, bù giá, bù cho việc cấp phát tín dụng với lãi suất thấp, bù cho việc bán hàng nhập khẩu với giá rẻ v. v..Có năm số tiền mà ngân sách nhà nước phải bao cấp đã lớn gấp ba lần số tiền mà khu vực quốc doanh nộp vào ngân sách nhà nước. Tình trạng lãi giả lỗ thựclà khá phổ biến nếu so sánh với khu vực kinh doanh tư nhân thí sự kém cỏi về hiệu quả lại càng rõ. Báo nhân dân ngày 12-11-1988 cũng đã đưa ra một sự so sánh khá lý thú: Tại trung tâm thương nghiệp Đà Nẵng, nếu cùng chiếm một diện tích kinh doanh như nhau, nhưng thương nghiệp quốc doanh chỉ nộp ngân sách nhà nước 11 triệu trong quí một, trong khi đó thương nghiệp tư nhân đã nộp cho ngân sách 351 triệu đồng.

Vậy là đáng lẽ khu vực kinh tế nhà nước phải là nguồn thu chủ yếu của ngân sách, thì trong những năm 80, ngược lại nó đòi hỏi ngân sách nhà nước quá lớn. Sự phân tích trên cho thấy là khu vực kinh tế nhà nước ở Việt Nam chiếm một tỷ trọng lớn nhất về tài sản cố định, lao động lành nghề và chất xám, nhưng lại làm ăn kém hiệu quả nhất, hàng năm đòi hỏi ngân sách nhà nước bao cấp lớn nhất, khu vức kinh tế tập thể cũng vậy; chỉ có khu vực tư nhân làm ăn có hiệu quả, nhưng lại chiếm một tỷ trọng nhỏ trong nền kinh tế. Nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước trông chờ từ khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, nhưng các khu vực này trên thực tế đã không đóng góp gì cho ngân sách nhà nước nếu so với phần nhà nước phải bao cấp. Hơn nữa các khu vực này lại luôn luôn đòi hỏi ngân sách nhà nước phải ưu đãi và bao cấp cho họ, vì họ là của nhà nước, của tập thể, của “XHCN”… Đó là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới lạm phát và một khi lạm phát bùng nổ, đã làm cho thị trường rối loạn, lời lỗ khó xác định, các hướng kinh doanh có hiệu quả và không có hiệu quả lẫn lộn. Trong tình trạng đó, các đơn vị kinh doanh phải đẩy mạnh các hoạt động đầu cơ ăn chênh lệch giá có lợi hơn là tìm hướng kinh doanh có hiệu quả. Sự giảm sút hiệu quả kinh doanh càng nghiêm trọng hơn và do vậy lạm phát lại càng cao hơn. Cái vòng soay hiệu quả giảm sút dẫn đến thu không đủ chi và lạm phát, rồi lạm phát lại làm cho hiệu quả giảm sút… cứ thế quay, thật nguy hiểm.

Lạm phát của một nền kinh tế mà độc quyền nhà nước có vị trí thống trị trên mọi lĩnh vực, cơ chế quan liêu mệnh lệnh, bao cấp nặng nề.
Như chúng ta đã biết, tronh một nền kinh té thị trường cạnh tranh phát triển tất dẫn đến tình trạng độc quyền và độc quyền khi mới xuất hiện có những ý nghĩa tiến bộ như: để giành lấy vị trí độc quyền, các công ty phải cải tiến lao động áp dụng tiến bộ kỹ thuật, tập trung các nguồn lực… Nhưng khi đã giữ được trí độc quyền rồi, thì các công ty này lại tìm cách duy trì vị trí của mình bằng cách bóp chết các địch thủ và ít chú ý đến việc cải tiến quản lý kỹ thuật, chính điều này đã dẫn đến suy thoái và khủng hoảng. Ở Việt Nam nhiều nghành đã hợp nhất tất cả các xí nghiệp lại thành một doanh nghiệp duy nhất và trong các lĩnh vực này không thể còn tồn tại một sự cạnh tranh nào. Cùng với chế độ độc quyền nhà nước, cơ chế mệnh lệnh quan liêu bao cấp đã ngự trị bền vững và bám rễ sâu chắc vào bộ máy kinh tế nhà nước Việt Nam, các cơ sở kinh tế một thời làm gì cũng phải xin lệnh cấp trên. Sản suất cái gì, mẫu mã gì, bán ở đâu, do ai cung cấp vật tư, thiết bị, được tuyển bao nhiêu công nhân viên, lương mỗi người bao nhiêu v. v..đều do cấp trên qui định. Cơ chế quan liêu này đã xoá hết tính độc lập tự chủ của các cơ sở. Chế đọ độc quyền của nhà nước và cơ chế kinh tế kế hoạch, quan liêu, mệnh lệnh, bao cấp đã triệt tiêu mất các quan hệ thị trường ở Việt nam, làm cho nền kinh tế Việt Nam xa lạ với thị trường.
Chính chế độ độc quyền và cơ chế quan liêu bao cấp đã là một trong những nguyên nhân chủ yếu đưa nền kinh tế Việt Nam tới tình trạng kém hiệu quả và lạm phát cao.

Lạm phát của một nền kinh tế đóng cửa và phụ thuộc một chiều vào các nguồn tài trợ bên ngoài. Nền kinh tế Việt Nam cho đến năm 1988về cơ bản vẫn là vẫn là một nền kinh tế đóng cửa, tuy đã có luật đầu tư khà cởi mở. Từ trước năm 1988 về trước, dường như có rất ít các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, các biên giới bị đóng cửa chặt hầu như không có buôn bán biên giới, chính sách hải quan khá chặt chẽ không khuyến khích suất nhập khẩu, chính sách suất nhập cảnh cũng chặt chẽ không kém. Hậu quả là các đồng vồn, hàng hoá… đã không du nhập vào Việt Nam được mặc dù thị trường Việt Nam rất thiếu vốn và hàng hoá. Tình trạng khan hiếm hàng hoá trên thị trường đã không được giải quyết bằng cách ngập khẩu hàng hoá bổ xung. Đầu cơ phát triển, càng làm cho cung cầu không cân đối, đẩy giá cả lên cao hơn.

Ngoài những đặc trưng chử yếu trên đây, ta còn có thể kể ra các đặc trưng khác của lạm phát Việt Nam như:
– Lạm phát của một nền kinh tế mà cơ cấu của nó bao gồm những nghành kém hiệu quả được ưu tiên phát triển.
– Lạm phát của một nền kinh tế chịu hậu quả nặng nề của các cuộc chiến tranh kéo dài nhiều năm. Do vậy những khoản chi tiêu cho quốc phòng lớn, những khoản chi phí đã làm tăng sự thâm hụt ngân sách và gia tăng lạm phát.
– Việt nam là nước nông nghiệp mà năm nào cũng có nơi bị thiên tai hạn hán lũ lụt, mất mùa nặng nề, nên ngân sách phải trợ cấp vùng lũ lụt.
Từ những phân tích các đặc trưng của lạm phát, ta có thể thấy được những nguyên nhân của lạm phát của thời kỳ 1981-1988.
Trước hết ta có thể tìm thấy nguyên nhân của lạm phát từ trong chính các thể chế kinh tế ở Việt Nam, từ chế độ công hữu tràn lan đến cơ cấu kinh tế quan liêu bao cấp, mệnh lệnh, đóng cửa… Chính thể chế kinh tế này dã làm cho nền kinh tế hình thành và phát triển theo hướng tăng chi phí, tách rời nhu cầu, cô lập với thị trường thế giới, do vậy mà không thể tạo môi trường kinh doanh có hiệu quả cho các xí nghiệp các công ty, thúc đẩy mất cân đối cung cầu, thu và chi ngân sách… Thể chế kích thích xu hướng phát triển không có hiệu quả, không trừng phạt các xí nghiệp làm ăn thua lỗ. Đó là nguyên nhân sâu xa đưa nền kinh tế nước ta lâm vào tình trạng lạm phát phi mã.

Thứ hai những nguyên nhân của lạm phát từ trong chính các thể chế chỉ đạo sai lầm của bộ máy nhà nước: cơ cấu không suất phát từ hiệu quả, chính sách lãi suất quá thấp so với mức trượt giá làm dân chúng không muốn gửi tiết kiệm, các ngân hàng chỉ làm chức năng phát hành thu giữ mà không làm chức năng kinh doang tiền tệ và vốn, không biết đầu tư vào ngành có hiệu quả, chính sách tài chính chỉ tính đến việc tận thu và phát hành tiền để chi mà không biết nuôi dưỡng các nguồn thu, vay của dân để chi v. v..Những chính sách này trên thực tế đã làm cho các nguồn thu ngày càng cạn kiệt, ngân sách ngày càng thiếu hụt và lạm phát gia tăng là một điều không tránh khỏi.

Thứ ba, nguyên nhân lạm phát do những điều kiện khách quan gây ra như chiến tranh, thiên tai…
Những đặc trưng trên đây cho thấy lạm phát ở Việt Nam thời kỳ này khác hẳn với các nước phương Tây.